|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 09/8/2024
V/v “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Hiệp.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thi Thị Thanh Trúc.
- Bà Trần Thị Sang.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Châu Thị Phượng Liên là Thư ký Tòa án.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị bé Trà - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 537/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXX-ST ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Bé T, sinh năm 1985 (xin vắng)
Địa chỉ: khu vực T, phường T, quận T, tp Cần Thơ
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Ô, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Nguyên đơn chị Trần Thị Bé T có ý kiến: Chị và anh Nguyễn Văn N qua thời gian quen nhau, tìm hiểu và yêu nhau, đồng thời được sự đồng ý của hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Sau ngày cưới chúng chị sinh sống và làm việc tại 2 nơi khác nhau, chị sinh sống ở Khu V T, phường T, Quận T, thành phố Cần Thơ còn anh N sinh sống tại ấp Ông Y, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Ngay từ khi đăng ký kết hôn vợ, chồng chị sống hạnh phúc luôn quan tâm chăm sóc cho nhau, luôn chia sẽ cho nhau niêm vui nỗi buồn. Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng chị có 01 con chung: Nguyễn Thị Ngọc N1, sinh ngày 09/02/2016. Vào năm 2018 thì vợ chồng chị đã phát sinh mâu thuẫn từ bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp, bởi vì anh N thay đổi tính tình vô tâm thờ ơ trong cuộc sống tâm tư, nguyện vọng của chị Bé T. Nhiều lần vợ chồng chị nói chuyện trao đổi đề tìm cách khắc phục tình trạng hôn nhân hiện tại, nhưng cả hai đều không tìm được tiếng nói chung. Cho đến thời điểm hiện tại, mâu thuẫn cứ thế triền miên diễn ra hằng ngày, hằng tháng và nhiều tháng nay, đời sống hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuân trâm trọng, không thể hòa giải. Hiện tại, chị Bé T xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể chung sống với nhau được nữa.
Về hôn nhân: Chị Trần Thị Bé T yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Văn N.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chúng tôi có 01 con chung: Nguyễn Thị Ngọc N1, sinh ngày 09/02/2016. Hiện tại Nguyễn Thị Ngọc N1 đang sinh sống với chị Bé T, sau khi ly hôn chị Bé T yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng Nguyễn Thị Ngọc N1 và yệu cầu anh Nguyễn Văn N cấp dưỡng nuôi Nguyễn Thị Ngọc N1 1.625.000 đồng /tháng cho đến khi Nguyễn Thị Ngọc N1 tròn 18 tuổi.
Về tài sản chung: Chị Bé T khai có, nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn N, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định xét xử, giấy triệu tập nhiều lần cho anh Nguyễn Văn N biết. Nhưng anh Nguyễn Văn N không đến Tòa án theo thông báo của Tòa án, cố tình vắng mặt và không gửi văn bản nêu ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Bé T.
* Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đối với việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- - Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử.
- - Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa hôm nay đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Đối với đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý đến thời điểm này nguyên đơn đã thực hiện theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Đối với việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Bé T, về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Ngọc N1, sinh ngày 09/02/2016 cho chị B T tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Nguyễn Văn N có nghĩa vụ cấp dưỡng chau N1 mỗi tháng 1.625.000đồng cho đến khi cháu N1 đủ 18 tuổi. Về Tài sản, nợ chung không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết đề xuất không xem xét. Về án phí dân sự sơ thẩm đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Trần Thị Bé T phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Nguyên đơn chị Trần Thị Bé T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh Nguyễn Văn N, trú tại ấp Ô, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh, yêu cầu giải quyết về con chung, về tài sản, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
[2] Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị Bé T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Văn N vắng mặt không có lý do tại phiên tòa. Tòa án đã lập biên bản không tiến hành hòa giải được, tiến hành công khai chứng cứ vắng mặt anh Huỳnh S và xét xử vắng mặt họ theo quy định tại 207, 208, 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị Trần Thị Bé T và anh Nguyễn Văn N sau khi được sự đồng ý của cha mẹ hai bên, anh chị đã tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Cần Thơ vào năm 2015, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Chị Bé T cho rằng vợ chồng có mâu thuẫn, sống không hạnh phúc, vợ chồng chị Bé T, anh N có mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng là sự thật và họ đã sống ly thân. Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên chị T và anh N đã bỏ mặt nhau, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, trong khoảng thời gian này hai người không hề gặp nhau để thực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy hai bên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng nghiêm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được và trong quá trình giải quyết vụ án anh Na mặt dù biết chị T khởi kiện tại Tòa án yêu cầu ly hôn anh, nhưng anh không đến Tòa án, thể hiện anh Nguyễn Văn N không quan tâm, không tha thiết hàn gắn trong cuộc hôn nhân này. Từ phân tích trên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Bé T đối với anh Nguyễn Văn N.
Về con chung: Chị Trần Thị Bé T và anh Nguyễn Văn N có 01 người con chung là tên Nguyễn Thị Ngọc N1, sinh ngày 09/02/2016. Chau Ngân có nguyện vọng khi cha mẹ ly hôn được sống chung với chị T. Hiện nay cháu N1 do chị T đang nuôi dưỡng. Tránh làm thay đổi môi trường sống của cháu và hiện nay cháu N1 được chị T nuôi dưỡng vẫn phát triển bình thường như bao đứa trẻ khác. Nên đồng ý giao cháu Ngọc N1 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con”. Nên Hội đồng xét xử châp nhận yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị T yêu cầu anh N cấp dưỡng cháu N1 mỗi tháng 1.625.000đồng kể từ ngày hô nay cho đến khi cháu N1 đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Chị Bé T khai có, nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên không xe xét.
Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí sơ thẩm: Chị Trần Thị Bé T và anh Nguyễn Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 56, 110 Luật hôn nhân và gia đình
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Bé T và anh Nguyễn Văn N.
Về hôn nhân: Chị Trần Thị Bé T được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
Về con chung: Chị Trần Thị Bé T được quyền tiếp tục nuôi con chung là Nguyễn Thị Ngọc N1, sinh ngày 09/02/2016 (theo nguyện vọng cháu N1 được sống chung với chị T).
Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Nguyễn Văn N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Thị Ngọc N1, sinh ngày 09/02/2016 mỗi tháng 1.625.000đồng kể từ ngày 09/8/2024 cho đến khi cháu N1 đủ 18 tuổi.
Không ai được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung. Vì quyền và lợi ích hợp pháp của chung, khi cần thiết và có yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như quyết định phần cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Bé T khai có, nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên không xe xét.
Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Trần Thị Bé T phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (án phí về ly hôn), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004107 ngày 03/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành. Chị Trần Thị Bé T đã nộp đủ án phí.
Anh Nguyễn Văn N phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch. (phần án phí cấp dưỡng nuôi con).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho các đương sự vắng mặt tại phiên toà biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phú Hiệp |
Bản án số 75/2024/HNGĐ-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 75/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Bé Thơ yêu cầu ly hôn Nguyễn Văn Na
