TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 09/8/2024
V/v: “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Lan.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Minh Tân.
- Bà Đoàn Thị Ngọc Hân.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Đình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
Ngày 08 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 293/2024/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 40/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Thái Hiền D, sinh năm: 1990, địa chỉ: F, khu phố D, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
* Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu Đ, sinh năm: 1980, địa chỉ: A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Chị D có yêu cầu xét xử vắng mặt; anh Đ vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/5/2024, bản tự khai ngày 17/6/2024, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 17/6/2024 nguyên đơn chị Thái Hiền D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Hữu Đ tự nguyện cưới nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, nhưng vào năm 2021 thì giữa chị và anh Nguyễn Hữu Đ xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính cách không phù hợp, vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay. Nay, chị xác định không còn tình cảm với anh Nguyễn Hữu Đ chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hữu Đ. Khi ly hôn, chị không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Hữu Đ mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Nguyễn Hữu Đ đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến hay yêu cầu của anh Nguyễn Hữu Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa chị Thái Hiền D và anh Nguyễn Hữu Đ là tranh chấp về ly hôn, bị đơn anh Nguyễn Hữu Đ có địa chỉ nơi cư trú tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre, nên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre thụ lý, giải quyết là phù hợp với quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Nguyễn Hữu Đ vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai; chị Thái Hiền D có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 288 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Thái Hiền D và anh Nguyễn Hữu Đ.
[2] Về hôn nhân: Chị Thái Hiền D và anh Nguyễn Hữu Đ tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre ngày 02/4/2018, nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị D xác định giữa vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp, thường xuyên cự cãi. Chị D và anh Đ đã sống ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mở phiên hòa giải để hai bên hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng anh Đ vắng mặt, không tham gia hòa giải, điều đó cho thấy anh Đ không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Hội đồng xét xử nhận thấy vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, chia sẻ cùng nhau trong cuộc sống nhưng hiện chị D và anh Đ sống ly thân đã lâu, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, quá trình chung sống hai bên cũng đã nhiều lần hàn gắn nhưng không được, nay chị D xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh Đ. Từ đó có cơ sở để xác định tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh Đ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D. Ghi nhận việc chị D không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
[3] Về con chung: Chị Thái Hiền D khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.
[4] Về tài sản chung: Chị Thái Hiền D khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.
[5] Về nợ chung: Chị Thái Hiền D khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.
[6] Về án phí: Chị Thái Hiền D phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chị Thái Hiền D được ly hôn với anh Nguyễn Hữu Đ. Ghi nhận việc chị Thái Hiền D không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
- Về con chung: Chị Thái Hiền D khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.
- Về tài sản chung: Chị Thái Hiền D khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.
- Về nợ chung: Chị Thái Hiền D khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.
- Về án phí: Chị Thái Hiền D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Thái Hiền D đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000552 ngày 27/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Chị Thái Hiền D đã nộp đủ án phí.
Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, chị Thái Hiền D và anh Nguyễn Hữu Đ vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Thanh Lan |
Bản án số 75/2024/HNGĐ-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE về ly hôn
- Số bản án: 75/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị D được ly hôn với anh Đ
