|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 75/2024/HS-ST Ngày: 09/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Bắc
Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Lài
Ông Trần Quốc Thái
Ông Vũ Công Sế
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 88/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024, đối với:
Bị cáo: Lý Thị Thanh T, sinh năm 1996 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Thường trú: 47G1 khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: số E, ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 5/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông: không rõ và bà Lý Thị Thanh H (sinh năm 1973); chung sống như vợ chồng với ông Lê Tài L (sinh năm 1986), chưa đăng ký kết hôn; chưa có con; Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt ngày 10/11/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
* Người bào chữa: Luật sư Nguyễn Đăng Đ – Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt)
* Bị hại:
- Ông Phan Sỹ K, sinh năm 1988; Địa chỉ: D, tổ D, khu phố D, phường P, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
- Ông Nguyễn Ngọc Đỗ T1, sinh năm 1989; Địa chỉ: A Khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
- Bà Nguyễn Ngọc Đỗ T2, sinh năm 1982; Địa chỉ: A khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo hồ sơ vụ án và theo diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1.1. Hành vi phạm tội của bị can Lý Thị Thanh T:
Do cần tiền tiêu xài và đánh bạc nên Lý Thị Thanh T dùng thủ đoạn cung cấp thông tin gian dối với ông Phan Sỹ K là người Thoại quen qua mạng xã hội Facebook là T đang kinh doanh bất động sản thu được lợi nhuận cao để kêu gọi ông K cùng góp vốn kinh doanh. Tin tưởng là thật nên từ tháng 4/2022 đến tháng 6/2022, ông K nhiều lần chuyển tiền qua tài khoản số 6001205234114 của T tại A tổng số 2.984.000.000 đồng để góp vốn kinh doanh mà không biết thực chất đã bị T lừa dối chiếm đoạt.
Quá trình chiếm đoạt 2.984.000.000 đồng trên, T nhiều lần chuyển khoản 2.075.501.000 đồng đến tài khoản 19037599727010 đứng tên Phạm Hoàng T3 tại T5 để mua điểm ảo tham gia đánh bạc trên trang website: B52f.club với tên đăng nhập là “Ni441996”, tên hiển thị là “ni1996", mật khẩu đăng nhập là “0123456789” và bị thua. Để củng cố niềm tin cho ông K, T chuyển lại cho ông K 749.000.000 đồng, nói dối là lợi nhuận ông K có được từ việc góp vốn kinh doanh, mục đích để ông K tiếp tục chuyển tiền góp vốn để T chiếm đoạt. Số tiền còn lại T tiêu xài cá nhân hết.
Cũng với thủ đoạn trên, khoảng tháng 4/2022, T lừa dối chiếm đoạt của ông Nguyễn Ngọc Đỗ T1 227.900.000 đồng, của bà Nguyễn Ngọc Đỗ T2 130.000.000 đồng. Thoại sử dụng 250.000.000 đồng để đánh bạc và bị thua, còn lại tiêu xài cá nhân hết.
Quá trình tham gia đánh bạc, T nhiều lần chuyển 500.000 đồng – 50.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng tên Phạm Hoàng T3 để mua điểm ảo, tham gia đánh bạc trên trang web nêu trên. Những lần chuyển khoản mua điểm ảo đều ghi nội dung chuyển khoản là “ni1996” để được đổi từ tiền thật ra điểm ảo. Thoại tham gia đánh bạc trực tuyến trên các game “T4 lên miền N 52 lá” thắng thua tiền với 03 người khác và “Lắc tài xỉu” thắng thua tiền với nhà cái. Số tiền đặt cược trên chiếu bạc cho mỗi ván đánh bạc từ 5.000.000 đồng - 200.000.000 đồng. T khai có khi thắng bạc từ 1.000.000 đồng – 10.000.000 đồng và rút về tài khoản A của T.
* Tổng hợp chung:
- Tổng số tiền bị cáo T đã chiếm đoạt của ông K, ông T1 và bà T2 là 3.341.900.000 đồng.
- Tổng số tiền bị cáo T tham gia đánh bạc trên không gian mạng và bị thua là 2.325.591.000 đồng.
Bị cáo T đã trả cho bị hại K 749.000.000 đồng.
Số tiền còn lại T tiêu xài cá nhân hết.
Quá trình điều tra, bị cáo Lý Thị Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi của bản thân và công nhận kết quả điều tra. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án (BL 88-103) .
1.2. Việc thu giữ tài liệu, vật chứng và kết quả giám định:
Cơ quan điều tra thu giữ chuyển theo hồ sơ vụ án:
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 100 triệu đồng để đặt cọc thửa đất số 109 tờ bản đồ số 60 tại xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày 15/5/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 200 triệu đồng để đặt cọc thửa đất số 601 tờ bản đồ số 26 tại xã T, huyện L và 130 triệu đồng để đặt cọc thửa đất số 12 tờ bản đồ số 144 tại xã P, huyện L ngày 17/5/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 80 triệu đồng để đặt cọc thửa đất số 214 tờ bản đồ số 4 xã A, huyện L ngày 18/5/2022.
- 01 giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 180 triệu đồng để đặt cọc thửa đất số 733 tờ bản đồ số 22 tại phường L, thành phố B ngày 24/5/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 260 triệu đồng để đặt cọc thửa đất số 216 tờ bản đồ số 107 tại thị trấn L, huyện L đề ngày 25/5/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 130 triệu đồng để đặt cọc thửa đất số 400 tờ bản đồ số 15 tại xã A, huyện L đề ngày 27/5/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 50 triệu đồng để đặt cọc thửa đất số 635 tờ bản đồ số 30 tại xã L, huyện Đ đề ngày 29/5/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 100 triệu đồng để hỗ trợ công chứng cho khách ngày 29/5/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 500 triệu đồng để đặt cọc thửa đất số 129 tờ bản đồ số 51 tại xã P, huyện X ngày 30/5/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 300 triệu đồng để đặt cọc thửa đất số 85 và 63 tờ bản đồ số 33 tại xã X, huyện X ngày 31/5/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 80 triệu đồng để hỗ trợ công chứng cho khách ngày 02/6/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 280 triệu đồng để hỗ trợ công chứng cho khách ngày 03/6/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 300 triệu đồng để hỗ trợ công chứng cho khách ngày 07/6/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 70 triệu đồng để hỗ trợ công chứng cho khách ngày 07/6/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 50 triệu đồng ngày 08/6/2022.
- 01 (Một) tập hợp đồng đặt cọc đất nhà đất.
Tại Kết luận giám định số 189 ngày 05/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B xác định: “Chữ ký, chữ viết mang tên Lý Thị Thanh T trên 15 trang giấy vở ô ly học sinh nói trên do Lý Thị Thanh T ký, viết ra”.
1.3. Về dân sự:
- Ông Phan Sỹ K yêu cầu Lý Thị Thanh T trả lại 2.274.000.000 đồng.
- Ông Nguyễn Ngọc Đỗ T1 yêu cầu Lý Thị Thanh T trả lại 227.900.000 đồng.
- Bà Nguyễn Ngọc Đỗ T2 yêu cầu Lý Thị Thanh T trả lại 130.000.000 đồng.
Bị cáo chưa bồi thường cho các bị hại.
1.4. Các vấn đề liên quan:
- Tài khoản 19037599727010 đứng tên Phạm Hoàng T3 tại T5 liên quan đến vụ án tổ chức đánh bạc, đánh bạc, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy phát hiện ngày 17 và 18/02/2023 tại tỉnh Bắc Ninh và thành phố Hà Nội do Văn phòng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đang thụ lý điều tra. Quá trình điều tra xác định tài khoản này sử dụng cho các con bạc nạp tiền (đổi điểm đánh bạc) thông qua hình thức chuyển khoản của các website tổ chức đánh bạc và đánh bạc. Do đối tượng T3 không có mặt tại nơi cư trú nên chưa làm việc được. Cơ quan điều tra đang tiếp tục truy xét làm rõ, khi nào đủ chứng cứ xử lý sau.
- Đối với hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc trên các website: Sieuno.fun; Saka.vin; B52f.club; Luky.vin... : Cơ quan điều tra đang tiếp tục truy xét làm rõ, khi nào đủ chứng cứ sẽ xử lý sau.
2. Tại Cáo trạng số 89/CT-VKS-P2 ngày 29 tháng 5 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo Lý Thị Thanh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và “Đánh bạc” theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
3. Tại phiên tòa, trong bản luận tội vị đại diện Viện Kiểm sát đã nêu các tình tiết vụ án, tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lý Thị Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Đánh bạc”; đề nghị áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, các điểm b, c khoản 2 Điều 321, các điểm s, t khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lý Thị Thanh T 12 (Mười hai) - 14 (Mười bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (Ba) – 04 (B) năm tù về tội “Đánh bạc”; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành 15 (Mười lăm) - 18 (Mười tám) năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung; xử lý vật chứng theo quy định pháp luật;.
Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo hoàn trả cho các bị hại số tiền bị chiếm đoạt.
4. Tranh luận, đối đáp tại phiên toà:
4.1. Luật sư Nguyễn Đăng Đ bào chữa cho bị cáo như sau:
Nhất trí với tội danh, Điều khoản Viện Kiểm sát truy tố đúng người, đúng tội; đề nghị Hội đồng xét xử lưu tâm đánh giá tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó đặc biệt lưu tâm đến hoàn cảnh, điều kiện bị cáo phạm tội để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo: hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn, tuổi thơ không có cha, mẹ già yếu, thiếu sự dạy dỗ, giáo dục, trình độ học vấn thấp nên hạn chế nhận thức pháp luật, môi giới đất đai không hiệu quả, sa lầy vào việc chơi bài trên mạng, thiếu sự can thiệp, hướng dẫn kịp thời của người thân, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lập công chuộc tội như đại diện Viện Kiểm sát đề nghị, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất thể hiện tính nhân văn, sự khoan hồng của pháp luật.
4.2. Bị cáo Lý Thị Thanh T thống nhất theo quan điểm bào chữa của Luật sư và không bào chữa bổ sung.
4.3. Bị hại không có ý kiến tranh luận, đề nghị bị cáo hoàn trả tiền đã chiếm đoạt cho bị hại; các bị hại Nguyễn Ngọc Đỗ T1, Nguyễn Ngọc Đỗ Thúy x giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì biết hoàn cảnh của bị cáo rất khó khăn.
4.4. Trong lời nói sau cùng, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, hối lỗi về hành vi phạm tội của bản thân, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
5. Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:
Lý Thị Thanh T cung cấp thông tin gian dối mình đang kinh doanh bất động sản sinh lợi nhuận cao, kêu gọi các ông Phan Sỹ K, Nguyễn Ngọc Đỗ T1 và bà Nguyễn Ngọc Đỗ Thúy g vốn kinh doanh để hưởng lợi nhuận khiến bị hại tưởng giả là thật, nhiều lần chuyển tiền góp vốn kinh doanh cho T tổng số 3.341.900.000 đồng từ tháng 4/2022 đến tháng 6/2022 tại huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, và bị T chiếm đoạt, đem đi đánh bạc trên không gian mạng và tiêu xài cá nhân. Cụ thể:
- Chiếm đoạt của ông Phan Sỹ K 2.274.000.000 đồng, của ông Nguyễn Ngọc Đỗ T1 227.900.000 đồng, của bà Nguyễn Ngọc Đỗ T2 130.000.000 đồng.
- Tham gia đánh bạc trên không gian mạng 2.325.591.000 đồng.
Như vậy, có đủ căn cứ xác định bị cáo Lý Thị Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự, và tội “Đánh bạc” theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự, đúng như truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Là công dân trưởng thành, phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, bị cáo nhận thức rõ quyền sở hữu hợp pháp về tài sản là khách thể được pháp luật bảo vệ, phải tôn trọng, mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Nhưng để có tiền tiêu xài cá nhân, trả nợ, đánh bạc, mặc dù không hoạt động kinh doanh bất động sản, bị cáo cố tình đưa ra thông tin gian dối khiến bị hại tưởng giả là thật về việc bị cáo kinh doanh bất động sản thành công và sinh lợi nhuận cao, nhiều lần nhận tiền góp vốn kinh doanh theo sự rủ rê của bị cáo và chiếm đoạt của ba bị hại tổng cộng 3.341.900.000 đồng, dùng 2.325.591.000 đồng trong tổng số tiền chiếm đoạt được của các bị hại để tham gia đánh bạc trên không gian mạng. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự an toàn công cộng tại địa phương. Bị cáo phạm tội nhiều lần với số tiền chiếm đoạt của nhiều bị hại và dùng vào việc đánh bạc đặc biệt lớn, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho các tội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Đánh bạc với tình tiết tăng nặng: “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
- Ông Phan Sỹ K yêu cầu Lý Thị Thanh T hoàn trả 2.274.000.000 đồng.
- Ông Nguyễn Ngọc Đỗ T1 yêu cầu Lý Thị Thanh T hoàn trả 227.900.000 đồng.
- Bà Nguyễn Ngọc Đỗ T2 yêu cầu Lý Thị Thanh T hoàn trả 130.000.000 đồng.
Đây là yêu cầu hợp lý nên buộc bị cáo phải trả lại cho các bị hại số tiền đã chiếm đoạt.
[5] Về xử lý vật chứng:
Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án: các giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận tiền của các bị hại để đặt cọc đất, hỗ trợ công chứng cho khách. Cụ thể:
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 100 triệu đồng để đặt cọc thửa đất số 109 tờ bản đồ số 60 tại xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày 15/5/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 200 triệu đồng để đặt cọc thửa đất số 601 tờ bản đồ số 26 tại xã T, huyện L và 130 triệu đồng để đặt cọc thửa đất số 12 tờ bản đồ số 144 tại xã P, huyện L ngày 17/5/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 80 triệu đồng để đặt cọc thửa đất số 214 tờ bản đồ số 4 xã A, huyện L ngày 18/5/2022.
- 01 giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 180 triệu đồng để đặt cọc thửa đất số 733 tờ bản đồ số 22 tại phường L, thành phố B ngày 24/5/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 260 triệu đồng để đặt cọc thửa đất số 216 tờ bản đồ số 107 tại thị trấn L, huyện L đề ngày 25/5/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 130 triệu đồng để đặt cọc thửa đất số 400 tờ bản đồ số 15 tại xã A, huyện L đề ngày 27/5/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 50 triệu đồng để đặt cọc thửa đất số 635 tờ bản đồ số 30 tại xã L, huyện Đ đề ngày 29/5/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 100 triệu đồng để hỗ trợ công chứng cho khách ngày 29/5/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 500 triệu đồng để đặt cọc thửa đất số 129 tờ bản đồ số 51 tại xã P, huyện X ngày 30/5/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 300 triệu đồng để đặt cọc thửa đất số 85 và 63 tờ bản đồ số 33 tại xã X, huyện X ngày 31/5/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 80 triệu đồng để hỗ trợ công chứng cho khách ngày 02/6/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 280 triệu đồng để hỗ trợ công chứng cho khách ngày 03/6/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 300 triệu đồng để hỗ trợ công chứng cho khách ngày 07/6/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 70 triệu đồng để hỗ trợ công chứng cho khách ngày 07/6/2022.
- 01 (Một) giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận của ông Phan Sỹ K 50 triệu đồng ngày 08/6/2022.
- 01 (Một) tập hợp đồng đặt cọc đất nhà đất.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo luật định.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Lý Thị Thanh T phạm các tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Đánh bạc”.
1.1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lý Thị Thanh T 16 (Mười sáu) năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
1.2. Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lý Thị Thanh T 04 (B) năm tù về tội “Đánh bạc”.
1.3. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo Lý Thị Thanh T phải chấp hành là 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn tính từ ngày 10/11/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự; buộc bị cáo Lý Thị Thanh T bồi thường thiệt hại về tài sản cho các bị hại: ông Phan Sỹ K 2.274.000.000 đồng (Hai tỷ hai trăm bảy mươi bốn triệu đồng), ông Nguyễn Ngọc Đỗ T1 227.900.000 đồng (Hai trăm hai mươi bảy triệu chín trăm nghìn đồng), bà Nguyễn Ngọc Đỗ T2 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về xử lý vật chứng:
Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án các giấy vở học sinh ghi nội dung: Lý Thị Thanh T nhận tiền của các bị hại để đặt cọc đất, hỗ trợ công chứng cho khách.
4. Án phí sơ thẩm:
Bị cáo Lý Thị Thanh T nộp 99.038.000 đồng (Chín mươi chín triệu không trăm ba mươi tám nghìn đồng), gồm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 98.838.000 đồng (Chín mươi tám triệu tám trăm ba mươi tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
5. Quyền kháng cáo:
Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (09/7/2024), bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Bắc |
Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và đánh bạc (vụ án hình sự)
- Số bản án: 75/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Đánh bạc (Vụ án Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Thị Thanh T
