|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2024/HS - ST
Ngày: 08-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thành
Bà Vũ Thị Linh
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Mai Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 71/2024/HSST ngày 25 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QĐXXST - HS ngày 27 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn N, sinh năm 1980 tại huyện T, tỉnh Hải Dương. Nơi ĐKHKTT: Đội 1, thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú: Ký túc xá Công ty TNHH Nice Ceramic khu công nghiệp C, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L và con bà Cao Thị H; Có vợ Nguyễn Thị X; có 02 con, đều sinh năm 2007.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 36/1999/HS-PT ngày 03/4/1999 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt N 18 tháng tù về tội “Hiếp dâm”. Nội chấp hành xong bản án, đã xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/6/2024 đến ngày 06/6/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
* Bị hại: Chị Lê Thị L1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số D, đường N, khu dân cư N, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1993. Địa chỉ: Khu dân cư C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
* Người làm chứng:
Ông Trần Văn N1, sinh năm 1964. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 28 tháng 5 năm 2024, Nguyễn Văn N đi bộ đến phòng trọ của chị Lê Thị L1, sinh năm 1977, địa chỉ số nhà D, đường N, khu dân cư N, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương chơi, ăn cơm trưa với chị L1 và hai người cháu của chị L1. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, chị L1 đưa hai cháu mình đi bơi nên bảo N đi về nhưng N nói ở lại một lúc rồi về sau thì chị L1 đưa hai cháu đi, N ở lại nhà trọ một mình. Khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, N chuẩn bị đi về thì nhìn thấy trong phòng ngủ có ba chiếc điện thoại của chị L1 gồm: 01 chiếc điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Samsung Galaxy A05, kiểu máy: SM-A055F/DS, số seri: R9WWA00PMBP, IMEI1 354035902819919, IMEI2 354978662819910, màn hình cảm ứng, không lắp sim; 01 chiếc điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Redmi 12, kiểu máy: 23053RN02A, IMEI1 869153065528264, IMEI2 869153065528272, màn hình cảm ứng, bên trong lắp 01 sim điện thoại mạng Viettel, đều để trên mặt giường. 01 chiếc điện thoại di động màu vàng đồng, nhãn hiệu Samsung Galaxy J4, kiểu máy: SM-J415F/DS, số seri: R58KC1TAT4N, IMEI1 352987107031553, IMEI2 352988107031551, màn hình cảm ứng, không lắp sim để trên mặt tủ cạnh đầu giường; thấy không có ai N đã nảy sinh chiếm đoạt ba chiếc điện thoại trên, N đi đến chỗ để điện thoại lần lượt lấy ba chiếc điện thoại của chị L1 đút vào túi quần đang mặc rồi đi ra ngoài khóa cửa phòng trọ lại, gửi chìa khoá cho ông Trần Văn N1, sinh năm 1964 là hàng xóm nơi chị L1 đang thuê trọ và gọi điện thoại cho chị L1 thông báo cho chị L1 nơi gửi chìa khóa rồi đi đến quán điện thoại của anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1993, địa chỉ khu dân cư C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương bán cho anh T chiếc điện thoại di động S Galaxy J4 màu vàng đồng, anh T không biết điện thoại do trộm cắp mà có nên đồng ý mua với giá 200.000đồng, số tiền này N tiêu sài hết. Đến ngày 02 tháng 6 năm 2024, Nguyễn Văn N về nhà ở xóm A, thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương cho con trai là cháu Nguyễn Anh T1, sinh năm 2007 chiếc điện thoại di động S Galaxy A05 màu xanh; còn chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi 12 màu đen, bên trong lắp 01 sim điện thoại mạng Viettel Nội giữ lại để sử dụng. Khi biết điện thoại do N trộm cắp mà có, ngày 04/6/2024 anh T, cháu T1 đã giao nộp lại chiếc điện thoại cho lực lượng Công an; ngày 04 tháng 6 năm 2024 N đến Công an phường S, thành phố C đầu thú và giao nộp chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi 12 màu đen.
Tai bản kết luận định giá tài sản số: 30 ngày 06/06/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố C kết luận, tại thời điểm ngày 28/5/2024: 01 điện thoại di động màu vàng đồng, nhãn hiệu Samsung Galaxy J4, kiểu máy: SM-J415F/DS, số seri: R58KC1TAT4N, IMEI1 352987107031553, IMEI2 352988107031551, màn hình cảm ứng, có trị giá là 500.000 đồng. 01 điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Samsung Galaxy A05, kiểu máy: SM-A055F/DS, số seri: R9WWA00PMBP, IMEI1 354035902819919, IMEI2 354978662819910, màn hình cảm ứng, có trị giá là 2.800.000 đồng. 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Redmi 12, kiểu máy: 23053RN02A, IMEI1 869153065528264, IMEI2 869153065528272, màn hình cảm ứng, có trị giá là 2.300.000 đồng. 01 SIM điện thoại mạng V, có trị giá là 35.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 5.635.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 80/CT-VKS-CL ngày 24/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Tòa án: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của BLTTHS; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo 9 tháng đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ từ ngày 04 tháng 6 năm 2024. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết. Về vật chứng: Truy thu của bị cáo Nguyễn Văn N số tiền 200.000đồng sung quỹ Nhà nước. Về án phí: Bị cáo N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại phòng trọ của chị Lê Thị L1 ở số nhà D, đường N, khu dân cư N, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn N có hành vi lợi dụng sơ hở lấy của chị L1 01 điện thoại di động màu vàng đồng, nhãn hiệu Samsung Galaxy J4; 01 điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu samsung Galaxy A05; 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Redmi 12, bên trong lắp 01 sim điện thoại Viettel. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn N chiếm đoạt là: 5.635.000đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã lợi dụng thời điểm tài sản không có người trông coi nên đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của chị L1 có tổng giá trị 5.635.000đồng. Bản thân bị cáo đã từng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, phải đi chấp hành án nhưng vẫn chưa lấy đó là bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới đủ giáo dục bị cáo trở thành người có ích, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
Tuy vậy, khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cũng xem xét tới các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ sau: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhưng tự nguyện ra cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C đầu thú. Bị hại là chị Lê Thị L1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, không có tài sản riêng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Chị L1, anh D không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố C đã trả lại cho chị L1 01 điện thoại di động màu vàng đồng, nhãn hiệu Samsung Galaxy J4; 01 điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu samsung Galaxy A05; 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Redmi 12 mà N đã trộm cắp là phù hợp với khoản 2 Điều 47 BLHS, điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với số tiền 200.000đồng, anh T đã trả cho bị cáo N, anh T không yêu cầu bị cáo bồi thường và không đồng ý cho bị cáo mà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật nên phải truy thu của bị cáo N số tiền này sung quỹ Nhà nước là phù hợp với điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
[7] Đối với anh Nguyễn Ngọc T mua chiếc điện thoại di động màu vàng đồng, nhãn hiệu Sam sung Galaxy J4 của N và cháu Nguyễn Văn T2 được N cho chiếc điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Samsung Galaxy A05, anh T và cháu T2 đều không biết là tài sản do N trộm cắp mà có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[8] Về án phí: Bị cáo N bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của BLTTHS; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 9 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 04-6-2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về xử lý vật chứng: Truy thu của bị cáo Nguyễn Văn N số tiền 200.000đồng sung quỹ Nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền có quyền kháng cáo liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Thu Hương |
Bản án số 75/2024/HS - ST ngày 08/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 75/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn N phạm tội Trộm cắp tài sản
