Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

Bản án: 75/2024/HSST.

Ngày: 08/01/2024.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Vân

Bà Hoàng Thị Nga

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Tố Quyên - Thư ký TAND TP. Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát ND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Văn Quang - Kiểm sát viên

Ngày 08/01/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 96/2023/HSST ngày 14/12/2023. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2023/QĐXXST - HS ngày 27 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo: Trần Đức D - sinh năm: 1993; nơi ĐKNKTT và chỗ ở tại: SN G N, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Trần Đức V và con bà Nguyễn Thị L; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: 12/10/2023; tạm giam: 18/10/2023. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người làm chứng: Anh Lê Tiến D1 - Sinh năm: 1970. (Vắng mặt)

Nơi cư trú: SN E T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Trần Đức D bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 21h 00'ngày 12/10/2023, tại trước số nhà A Đ, phường B, thành phố T, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T đã tiến hành kiểm tra, phát hiện, thu giữ của Trần Đức D 03 túi nilong màu trắng, mỗi túi đều có kích thước khoảng (4x7) cm, trong đó 02 túi có chứa cành, lá khô dạng thảo mộc màu nâu; 01 túi có chứa cành, lá dạng thảo mộc màu xanh. Trần Đức D khai đây là ma túy loại cần sa đang cất giấu để bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản phạm tội quả tang đối với D và thu giữ vật chứng.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Đức D khai nhận: Vào khoảng chiều ngày 12/10/2023, D đi một mình đến khu vực bờ đê gần đại lộ N thuộc phường Đ, thành phố T tìm mua được 03 túi ma túy cần sa với giá 300.000 đồng của một nam thanh niên khoảng 25 tuổi (không biết rõ tên và địa chỉ) mang về nhà cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời. Đến khoảng 21h cùng ngày, D giấu 3 túi ma túy trong người ra đang đứng ở trước Số nhà A Đ, phường B, thành phố T để bán thì bị Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của D tại số nhà G N, phường N, thành phố T, Cơ quan CSĐT không phát hiện, thu giữ gì.

Tại Bản kết luận giám định số 3780/KT-KTHS ngày 18/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh kết luận:

  • - Cành lá khô dạng thảo mộc màu nâu của phong bì niêm phong mặt trước ghi M1 gửi giám định là cần sa, có tổng khối lượng 1,554g (một phẩy năm năm bốn gam).
  • - Cành lá khô dạng thảo mộc màu xanh của phong bì niêm phong mặt trước ghi M2 gửi giám định là cần sa, có tổng khối lượng 1,709g (một phẩy bảy không chín gam).

Về vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định được bỏ vào phong bì đóng dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T được chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa chờ xử lý theo qui định của pháp luật.

Đối với nam thanh niên đã bán ma túy cho Trần Đức D, do D không biết tên, nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ xác minh để xử lý.

Cáo trạng số 30/CT - VKS - TPTH ngày 11/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố Trần Đức D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma tuý. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Khoảng 21h00' ngày 12/10/2023, tại trước số nhà A Đ, phường B, thành phố T. Trần Đức D đã có hành vi cất giấu 3,263g (ba phẩy hai sáu ba gam) ma túy loại cành lá cần sa, mục đích bán kiếm lời thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội đã đánh giá đúng tính chất hành vi nguy hiểm của tội phạm, đồng thời vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Đức D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Đức D đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của BLHS.

[3]. Trong vụ án này bị cáo biết rõ các tệ nạn về ma túy, nhất là người nghiện ma túy không những tha hóa về phẩm chất đạo đức, mà còn làm ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội và sự thuần phong mỹ tục của dân tộc. Đặc biệt ma túy còn là một trong những tác nhân làm lây lan căn bệnh HIV/AIDS phát triển, bị cáo cũng vì lợi nhuận dẫn đến việc phạm tội. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn tạo ra dư luận xấu trong nhân dân, tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính phòng ngừa chung.

[4] Bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, lại phạm loại tội nghiêm trọng. Vì lẽ đó cần phải cách ly khỏi xã hội để bị cáo có thời gian cải tạo, sữa chữa sai phạm. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là thành khẩn khai báo, bị cáo có thời gian tham gia quân đội được Trung đoàn 335 tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua tiên tiến và có bố đẻ trong quá trình công tác tham gia chiến tranh bảo về Tổ Q, làm nhiệm vụ quốc tế sau ngày 30/4/1975. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Trong vụ án này bị cáo mua ma tuý để bán nhưng chưa kịp bán, do đó không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng: Số ma tuý thu được của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần áp dụng khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và điểm 1 Mục I phần A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội qui định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Đức D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Trần Đức D 24 (Hai bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2023.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh T, có hình dấu của Phòng kỹ thuật, kèm chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trần Đ, Lưu Bình N, Bùi Xuân C, đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số: 60/2024/THA ngày 13/12/2023.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7B và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Vân Hoàng Thị N1

Nguyễn Thị Lan A

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HSST ngày 08/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 75/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger