Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HS-ST

Ngày 07 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trọng.

Thẩm phán: Ông Nguyễn Huy Cẩn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phùng Đình Chúc.

2. Ông Nguyễn Quang Bằng.

3. Bà Đỗ Thị Kim Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thuỳ Dương – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 69/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Bùi Xuân H, sinh ngày 09 tháng 9 năm 1987; tại huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn P, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Xuân T, sinh năm 1940 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; có vợ Lê Thị B và có 04 con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/10/2023 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V, “có mặt”.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Văn D – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh V; địa chỉ: Đường P, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.

Bị hại: Anh Nguyễn Thế A, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn Phô Cóc, xã Minh Quang, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.

Người làm chứng: Anh Tạ Văn T2, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 04/10/2023, Bùi Xuân H đi lên rừng lấy lá chè đem về nhà sử dụng. Khi H điều khiển xe máy về đến đoạn đường ngã ba rẽ về nhà, H thấy 01 chiếc xe ô tô taxi BKS: 88A-519.71, màu trắng của anh Trần Việt D1, sinh năm 1992, ở thôn M, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đỗ trước cổng nhà anh Nguyễn Thế A ở gần nhà H để chờ đón anh Thế A. Thấy xe ô tô đỗ gây cản trở lối đi nên H dừng xe máy và nói to hướng vào nhà Thế A: “Thế A ơi sao chúng mày để xe ra giữa đường thế này, không cho chúng tôi đi lại à” nhưng không thấy ai trả lời, nên H điều khiển xe máy quay lại phía trên dốc cạnh ngã ba để trả xe máy cho anh Lục Văn H1 ở cùng thôn với H. Sau khi trả xe máy xong, H đi bộ về nhà, trên người H vẫn đem theo 01 đèn pin màu nâu đen và 01 con dao (loại dao mèo) cài ở cạp quần bên trái, dao có lưỡi sắc, mũi nhọn, dài khoảng 40cm (chuôi dao bằng gỗ dài khoảng 10cm, lưỡi dao khoảng 30cm), bản rộng của lưỡi dao khoảng 6cm, dao để trong vỏ bao bằng gỗ màu đỏ.

Lúc này H gặp anh Thế A và anh D1 từ nhà ra xe taxi để đi, anh D1 lên ngồi ở ghế lái, còn Thế A đứng ở đuôi xe đang đỗ. H nói: “Chúng mày đậu xe không đậu dịch lại ven đường để cho người khác đi, đi qua sợ va vào gương xe, không có tiền đền”. Thế A nói lại: “Đường không phải là đường của nhà mày”, H nói: “Đây là đường của chung, không phải đường của nhà ai hết”. Thế A thấy H đứng ở gần xe nên tiến đến dùng tay phải đẩy vào ngực H để H tránh ra thì H không tránh, đồng thời H dùng tay phải đẩy lại vào ngực Thế A, rồi vung tay phải tát 01 cái vào mặt Thế A. Thấy HThế A đánh nhau nên anh Tạ Văn T2, sinh năm 1989, trú tại thôn L, xã X, huyện C, tỉnh Tuyên Quang từ trong nhà Thế A đi ra căn ngăn, còn anh D1 đã điều khiển xe ô tô đi cách đó một đoạn.

Sau khi bị H tát 01 cái vào mặt, Thế A bực tức lấy 01 viên gạch có bám xi măng ở tường rào cạnh đó, cầm trên tay phải giơ lên doạ đánh H, thì H chỉ tay vào đầu nói: “Giỏi mày đập đi, chỗ này nhiều máu này” nhưng Thế A sợ gây nguy hiểm nên không đánh H, mà đập bỏ viên gạch xuống nền đường làm viên gạch bị vỡ bung ra thành nhiều mảnh. Hai người di chuyển đến phía cổng giáp tường rào nhà chị Nguyễn Thị L (là chị gái của Thế A). Thế A chửi HH cũng chửi lại, Thế A dùng tay đẩy về phía H thì H dùng tay đỡ lại; Thế A dùng tay trái túm vào cổ áo H, thì H dùng tay phải đấm 01 cái vào bụng Thế A; Thế A dùng tay phải đấm lại 2 cái trúng vào mặt H làm H lùi lại.

Khi Thế A đứng khom người đối diện với H, cách H khoảng 0,6m, H dùng tay phải rút con dao mèo từ cạp quần ra làm bao dao bị rơi ra khỏi người xuống đường. H cầm dao trên tay phải đâm 02 nhát, hướng từ sau ra trước, từ dưới lên trên, một nhát trúng vào ngực trái, một nhát trúng vào bắp tay trái của anh Thế A. Thấy vậy, anh Thế A hô lên: “Thằng H mày đâm tao” và quay

người lại để bỏ chạy, thì bị H tiếp tục vung dao lên chém hướng từ trên xuống dưới, từ sau ra trước 01 nhát trúng vào vùng đầu phía sau của anh Thế A.

Thế A bỏ chạy về hướng cổng nhà bà Nguyễn Thị T1 (mẹ đẻ của H) thì H chạy đuổi theo, khi đuổi kịp H dùng tay trái túm vào sườn áo bên trái của anh Thế A kéo lại, tay phải H cầm dao mèo đâm 01 nhát và chém nhiều nhát liên tiếp vào vùng thân trên phía sau lưng của anh Thế A, trong đó có 02 nhát trúng ở vùng giữa lưng bên phải, 01 nhát trúng vào vùng bả vai phải của Thế A. H tiếp tục dùng tay trái túm vào phần cổ áo anh Thế A giật xuống làm anh Thế A ngã nằm úp ra đường; tay phải H cầm dao chém bổ 01 nhát hướng từ trên xuống dưới trúng vùng lưng gần bả vai trái anh Thế A.

Sau đó anh Thế A tiếp tục vùng đứng dậy chạy vào cổng nhà bà T1, H đuổi theo đến sân thì có bà T1 đi ra hè chửi và can ngăn thì H không đánh nữa. H bỏ đi luôn vào trong bãi đồi trồng bạch đàn, ném con dao vào trong rừng bạch đàn. Sau đó H đi lên khu vực mỏ đá cũ thuộc thôn P, xã M ngủ ở gốc cây qua đêm. Đến chiều ngày 05/10/2023 H đến Công an huyện T đầu thú. Anh Nguyễn Thế A được mọi người đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện T; sau chuyển tiếp đến Bệnh viện đa khoa tỉnh V cấp cứu, điều trị đến ngày 10/10/2023 thì ra viện.

Sau khi xảy ra vụ việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã phối hợp cùng các đơn vị liên quan, tiến hành khám nghiệm hiện trường theo quy định.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường vụ án xảy ra ngày 04/10/2023 tại đoạn đường dân sinh thuộc thôn P, xã M, T, Vĩnh Phúc; tại vị trí này phía T tiếp giáp khu đồi thông bạch đàn của nhà ông Trương Văn C, phía Đông Bắc tiếp giáp nhà Nguyễn Thị L, phía Đông Nam là hướng đi đến nhà anh Nguyễn Thế ABùi Xuân H, phía Tây Nam tiếp giáp khu đất trống nhà Nguyễn Văn H2.

Tiến hành khám nghiệm theo hướng từ cổng nhà anh Nguyễn Thế A đến ngã ba đường dân sinh phát hiện các dấu vết sau: Vết chất dịch màu nâu đỏ kích thước 4cm x 2,5cm đã khô bám dính trên mặt đường được ký hiệu là (V1) như trong sơ đồ hiện trường, đo từ (V1) đến góc tường bao giáp cổng nhà bà Nguyễn Thị L là 03m, đo từ (V1) đến cột điện giáp nhà ông Trương Văn C là 08m, nối tiếp tại vị trí giáp tường nhà bà Nguyễn Thị L phát hiện 01 đèn pin màu đen bị vỡ, có dây đeo, vị trí này ký hiệu là (V2) như trong sơ đồ hiện trường. Đo từ (V2) đến góc tường giáp cổng nhà bà Nguyễn Thị L là 1,2m, đo từ (V2) đến cột điện giáp đất nhà ông T3 Văn Cảnh là 7,1m. Lối tiếp đi ra ngã ba phát hiện đám mảnh xi măng vỡ, gạch vỡ kích thước 1,6m x 0,7m, vị trí này ký hiệu (V3) như trong sơ đồ hiện trường. Đo từ tâm (V) đến góc tường giáp cổng nhà bà Nguyễn Thị L là 2,7m, đo từ tâm (V3) đến cột điện giáp đất nhà ông T3 Văn Cảnh

3,5m, đo đường dân sinh rộng 04m, đường trước cửa nhà anh Nguyễn Thế A rộng 3,2m. Tiến hành mở rộng hiện trường chưa phát hiện dấu vết gì liên quan.

- Quá trình khám nghiệm hiện trường đã thu giữ: Chất dịch màu nâu đỏ (V1) được thu bằng phương pháp thấm tăm bông, cho vào phong bì niêm phong dán kín; 01 đèn pin màu đen, có dây đeo màu xanh đen (đèn pin đã cũ và bị vỡ thân đèn) và một số mảnh vữa vỡ, gạch vỡ.

- Ngày 04/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã thu giữ 01 áo phông cộc tay, có nhiều vết rách của anh Nguyễn Thế A khi đến cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện T để phục vụ điều tra.

* Đối với thương tích của người bị hại anh Nguyễn Thế A:

- Tại Biên bản xác minh thương tích hồi 21 giờ 30 phút ngày 04/10/2023 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh V cung cấp: Bệnh nhân Nguyễn Thế A nhập viện hồi 20 giờ 13 phút ngày 04/10/2023, trong tình trạng tiếp xúc được. Da niêm mạc hồng nhạt, khó thở, thở 23 lần/ phút, SP02: 96%, phổi thông khí giảm. Bụng mềm không chướng. Vết thương rách da ở ngực trái, bờ sắc gọn. Vài vết thương vùng lưng, bờ sắc gọn đang băng ép cầm máu. Vết thương rách da đầu vùng gáy, bờ sắc gọn. Vết thương rách da mặt trước cánh tay trái. Kết quả chụp cắt lớp vi tính lồng ngực: Hình ảnh tràn khí, tràn dịch màng phổi phải. Tràn khí thành ngực bên phải và lưng bên trái. Cắt lớp vi tính sọ não, siêu âm ổ bụng, siêu âm tim, chưa phát hiện bất thường. Bệnh nhân được chuyển đến nhà mổ phẫu thuật.

- Tại Phiếu phẫu thuật của Bệnh viện Đa khoa tỉnh V ngày 06/10/2023 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh V cung cấp: Chẩn đoán trước phẫu thuật: S20 - Vết thương thấu ngực phải TTMTK KMP (tổn thương mô tràn khí khoang màng phổi) phải, vết thương ngực, bả vai trái, vết thương cánh tay trái, vết thương da đầu. Tường trình phẫu thật như sau: Tiến hành đặt dẫn lưu khoang liên sườn 5 đường nách giữa phải, luồn Sonde dẫn lưu cỡ 26Fr bờ trên xương sườn 6 phải đưa vào khoang màng phổi phải ra phía sau, hút ra nhiều khí và khoảng 100-150ml dịch máu nối với hệ thống hút liên tục áp lực âm 20 cmH2O. Khâu cố định dẫn lưu, đặt mũi chỉ chờ.

* Kiểm tra lồng ngực mặt trước có 01 vết thương cạnh núm vú trái, kích thước 2-3cm, bờ sắc gọn. Mở rộng vết thương kiểm tra thấy tổn thương rách cơ ngực lớn chảy máu.

* Mặt sau lưng phải có 03 vết thương:

  • + 01 vết thương vị trí trên đường giữa xương bả vai phải ứng với khoang liên sườn 8 đến 9 bên phải, kích thước khoảng 5-6cm, bờ sắc gọn, chảy nhiều máu từ vết thương, tiến hành mở rộng vết thương sang hai bên và lên trên kiểm tra, vết thương lóc rộng gây rách cơ lưng rộng, thấu ngực phải;
  • + 01 vết thương sát góc xương bả vai phải trên đường cạnh sống phải, kích thước khoảng 3-4cm, bờ sắc gọn, chảy máu từ vết thương, mở rộng vết thương kiểm tra thấy rách cơ chảy máu từ cơ;
  • + 01 vết thương góc trái xương bả vai trái, kích thước khoảng 3-4cm, bờ sắc gọn, đang chảy máu từ vết thương, mở rộng vết thương kiểm tra thấy tổn thương rách cơ, chảy máu từ cơ.

* Cánh tay trái mặt trước trong có 01 vết thương, kích thước khoảng 5-6cm, bờ sắc gọn, kiểm tra thấy rách bao cơ nhị đầu cánh tay phải.

* Đỉnh đầu có 01 vết thương, kích thước 5-6cm, bờ sắc gọn.

- Tại Biên bản xác minh hồi 15 giờ ngày 12/01/2024, Khoa ngoại tổng hợp – Bệnh viện Đa khoa tỉnh V cung cấp: “Xác định có vết thương thấu ngực phải vào nhu mô phổi phải, tràn máu, tràn khí qua khoang màng phổi phải. Không xác định được chính xác tổn thương thùy hay phân thùy nào của phổi do không mổ ngực”.

* Về kết luận giám định thương tích

- Ngày 06/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định Trưng cầu giám định thương tích đối với thương tích của anh Nguyễn Thế A. Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 369/KLTTCT-PYVP ngày 09/10/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh V, kết luận: “* Các kết quả chính:

  • - Vết thương phần mềm vùng gáy chẩm lệch trái kích thước trung bình, xếp: 02%
  • - Vết thương phần mềm tương ứng khoang liên sườn 5, 6 đường vú tròn trái kích thước nhỏ xếp: 01%.
  • - Vết thương phần mềm 1/3 trên mặt trước trong cánh tay trái kích thước nhỏ xếp: 01%.
  • - Vết dẫn lưu mạn sườn phải kích thước nhỏ xếp: 01%.
  • - 03 vết thương phần mềm mặt trên sau lưng phải có 02 vết kích thước trung bình mỗi vết xếp 02%; 02% và 01 vết kích thước nhỏ xếp: 01%.
  • - Vết thương phần mềm tương ứng góc dưới xương bả vai trái kích thước trung bình, xếp 02%.

Hiện tại: Các thương tích đã mô tả trên hiện đang điều trị, khi nào ổn định giám định bổ sung.

Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương trên có thể là do vật sắc nhọn gây nên.

* Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thế A tại thời điểm giám định là: 11% (Mười một phần trăm) áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư”.

- Ngày 13/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung thương tích của anh Nguyễn Thế A. Tại Bản kết luận

giám định số 426 ngày 15/01/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh V, kết luận: “* Các kết quả chính:

  • - Sẹo vết thương phần mềm 1/3 trên mặt trước trong cánh tay trái kích thước trung bình xếp: 02%.
  • - Sẹo vết thương phần mềm góc dưới xương bả vai trái kích thước trung bình, xếp: 02%.
  • - 03 sẹo vết thương phần mềm ½ trên lưng phải kích thước trung bình mỗi vết xếp 02%; 02%; 02%.
  • - Sẹo vết thương phần mềm khoang liên sườn 6, 7 đường nách giữa bên phải kích thước trung bình xếp 02%.
  • - Tràn khí, tràn dịch khoang màng phổi phải sau điều trị xếp 03%.
  • - Vết thương nhu mô phổi phải sau điều trị đã ổn định xếp 08%.

Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương trên có thể là do vật sắc nhọn gây nên.

Kết luận: Căn cứ Thông tư 22 ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăn tổn thương cơ thể sử dụng trong giảm pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thế A tại thời điểm giám định là 24%, áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư”.

*Về kết luận giám định khác

- Ngày 15/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V ra Quyết định trưng cầu giám định dấu vết ADN trên chiếc áo thu giữ của anh Nguyễn Thế A và ADN chất dịch màu nâu đỏ thu giữ tại hiện trường so sánh với mẫu AND thu giữ của Nguyễn Thế ABùi Xuân H. Tại bản Kết luận giám định AND số HT236.24/PY-XNSH ngày 20/5/2024 của V, kết luận: “Dấu vết trên tăm bông thu mẫu chất màu nâu đỏ tại hiện trường (ký hiệu A1) và dấu vết trên áo phông cộc tay của Nguyễn Thế A (ký hiệu A2) gửi giám định sinh phẩm của người; có ADN nhiễm sắc thể thường trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu tóc của anh Nguyễn Thế A (ký hiệu M2), không trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu tóc của bị can Bùi Xuân H (ký hiệu M1)”.

* Kết quả truy tìm vật chứng là 01 con dao mèo.

Ngày 08/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T có Quyết định truy tìm vật chứng số 13/QĐ-ĐCSHS để truy tìm 01 con dao kèm theo bao dao bằng gỗ loại gỗ xoan màu sơn đỏ (thường gọi dao mèo, chiều dài khoảng 40cm, phần chuôi dao bằng gỗ dài khoảng 10cm; phần lưỡi dao bằng sắt dài khoảng 30cm, có 01 đầu nhọn, 01 lưỡi sắc, bản rộng nhất của lưỡi dao khoảng 6cm. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa tìm thấy vật chứng có đặc điểm nêu trên.

Ngày 05/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T dẫn giải bị cáo H đến vị trí mà H chỉ dẫn, để tìm kiếm con dao mà H đã vứt bỏ sau khi sử dụng chém gây thương tích cho anh Nguyễn Thế A. Kết quả không tìm được con dao nào.

Ngày 16/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T cho bị cáo H tiến hành nhận dạng con dao đâm gây thương tích cho anh Thế A tối ngày 04//10/2023. Kết quả H nhận ra con dao ở vị trí số 04 có đặc điểm tương đồng với con dao mà bị cáo H sử dụng đâm anh Thế A, cụ thể: 01 con dao kèm theo bao dao bằng gỗ loại gỗ xoan màu sơn đỏ (thường gọi dao mèo, chiều dài khoảng 40cm, phần chuôi dao bằng gỗ dài khoảng 10cm, phần lưỡi dao bằng sắt dài khoảng 30cm, có 01 đầu nhọn, 01 lưỡi sắc, bản rộng nhất của lưỡi dao khoảng 6cm. Lý do H nhận ra là vì H đã mua con dao này và sử dụng hàng ngày lên rừng lấy lá chè về bán (có bản ảnh kèm theo).

* Kết quả thực nghiệm điều tra: Ngày 16/01/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra, trong đó cho bị cáo H diễn lại toàn bộ diễn biến hành vi H cầm dao đâm liên tiếp nhiều nhát vào ngực trái, bắp tay trái, vùng đầu, vùng lưng (bả vai trái và bả vai phải) của anh Nguyễn Thế A cho đến khi có người can ngăn thì H mới dừng lại. Kết quả thực nghiệm điều tra thấy rằng hành vi của H diễn tả lại phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định thương tích và phù hợp với lời khai của những người làm chứng, bị hại.

*Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, anh Thế A đã yêu cầu H phải có trách nhiệm bồi thường số tiền là 150.000.000đ, trong đó: Chi phí viện phí là 2.855.674đ; chi phí người chăm nuôi anh Thế A trong quá trình nằm viện là 07 ngày, mỗi ngày tính 350.000đ, tổng là 2.450.000₫ (7 ngày x 350.000₫); tiền mua thuốc sau khi xuất viện là 981.180đ; tiền khám ban đầu tại Trung tâm Y tế huyện T là 56.710đ; tiền chụp khám lại tại trung tâm M là 960.000đ; tiền tổn thất tinh thần là 142.690.000đ (tại phiên tòa anh Thế A bồi thường số tiền tổn thất tinh thần là 52.696.000₫); tổng cộng anh Thế A chỉ yêu cầu H bồi thường dân sự tất cả các khoản, tổng cộng là 60.000.000đ. H đồng ý với yêu cầu bồi thường của anh Thế A, tuy nhiên đến nay H chưa bồi thường được khoản tiền nào.

Tại bản Cáo trạng số 77/VKS-P2 ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố: Bị cáo Bùi Xuân H về tội “Giết người”, theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc giữ nguyên nội dung truy tố như Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Xuân H phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 57 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Bùi Xuân H từ 08 năm đến 09 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/10/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo H phải có trách nhiệm bồi thường dân sự cho anh Thế A tổng số tiền là 60.000.000đ.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất về xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của người tham gia tố tụng:

Tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo H khẳng định Cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về việc bị cáo là người có nhân thân tốt, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có hoàn cảnh và điều kiện khó khăn, nuôi 4 con nhỏ, hộ gia đình cận nghèo, nhận thức pháp luật hạn chế, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có điều kiện cải tạo, sớm trở về gia đình nuôi dạy con cái.

Bị hại anh Thế A trình bày các nội dung phù hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Quá trình điều tra và tại phiên toà anh đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho anh các khoản chi phí dân sự tổng số tiền 60.000.000₫, đồng thời anh Thế A xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người làm chứng anh Tạ Văn T2 trình bày các nội dung phù hợp lời khai của bị cáo, bị hại và các tài liệu có trong hồ sơ, anh đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định.

Bị cáo nói lời sau cùng, do nhận thức pháp luật hạn chế đã vi phạm pháp luật nên rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

[2]. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Bùi Xuân H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, bị cáo khai nhận:

[2.1]. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 04/10/2023, tại đoạn đường dân sinh trước cổng nhà anh Nguyễn Thế A ở thôn P, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, do có mâu thuẫn nhỏ (xuất phát từ việc xe ô tô Taxi đỗ ở cổng đón anh Thế A, gây cản trở một phần lối đi vào nhà H), dẫn đến giữa Bùi Xuân H và anh Nguyễn Thế A đã xảy ra va chạm, cãi chửi nhau. H tát vào mặt anh Thế A 01 cái dẫn đến hai bên lao vào du đẩy nhau, H dùng tay phải đấm vào bụng anh Thế A, anh Thế A dùng tay phải đấm lại 02 cái vào mặt H; bị đánh lại, H rút trong người ra 01

con dao mèo chiều dài khoảng 40cm, phần chuôi dao bằng gỗ dài khoảng 10cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 30cm, có 01 đầu nhọn, 01 lưỡi sắc, bản rộng nhất của lưỡi dao khoảng 6cm đâm anh Thế A liên tiếp nhiều nhát, trong đó có 02 nhát trúng anh Thế A, một nhát trúng vào ngực trái (cạnh núm vú trái) và một nhát vào bắp tay trái của anh Thế A. Bị đâm, anh Thế A hô lên: “Ôi thằng H nó đâm tao” và quay người lại để bỏ chạy, thì tiếp tục bị H cầm dao vung lên chém 01 nhát vào đỉnh đầu.

[2.2]. Bị đâm anh Thế A bỏ chạy thì H tiếp tục đuổi theo, tay trái H túm áo anh Thế A kéo lại, tay phải H tiếp tục đâm 01 nhát và chém liên tiếp nhiều nhát vào phần lưng anh Thế A, trong đó 02 nhát trúng vào phần giữa lưng bên phải, 01 nhát trúng vào vùng bả vai phải anh Thế A; H túm vào áo kéo làm anh Thế A ngã úp xuống mặt đường, H tiếp tục cầm dao chém 01 nhát trúng vào bả vai trái của Thế A. Sau đó anh Thế A vùng dậy bỏ chạy được thì H tiếp tục đuổi theo, nhưng được mọi người can ngăn nên H dừng lại. Hậu quả, anh Thế A bị thương tích tổn hại 24% sức khỏe.

[3]. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng, các kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để xác định: Bùi Xuân H có hành vi cầm dao nhọn bằng kim loại (dao mèo, lưỡi dao dài khoảng 30cm, lưỡi dao sắc, đầu nhọn) là hung khí nguy hiểm đâm hai nhát (trong đó có một nhát vào ngực phải), sau đó tiếp tục dồn đuổi và đâm, chém liên tiếp nhiều nhát vào các vùng đầu, lưng, vai của anh Thế A là hết sức nguy hiểm; trong đó có vết thương do dao nhọn đâm thấu ngực phải vào nhu mô phổi phải, gây tràn máu, tràn khí qua khoang màng phổi phải. Tại phiên tòa bị cáo H thừa nhận khi xảy ra vụ việc, do bị anh Thế A đánh lại bị cáo có hành vi rút dao ra đâm, chém liên tục bất chấp hậu quả, nếu bị hại anh Thế A không xin và mẹ bị cáo không chửi bới, can ngăn thì bị cáo sẽ tiếp tục đâm, chém cho đến chết.

[3.1]. Hành vi của Bùi Xuân H cầm dao nhọn (dao mèo dài khoảng 40cm), là hung khí nguy hiểm đâm chém liên tiếp nhiều nhát vào các vùng ngực, đầu, lưng của anh Thế A là hết sức nguy hiểm, trong đó có vết thương do dao nhọn đâm vào lưng thấu ngực phải, vào phổi phải làm tràn máu, tràn khí phổi phải. Anh Thế A không tử vong là do được cấp cứu kịp thời (Thời điểm anh Thế A được đưa đến cấp cứu tại Trung tâm Y tế huyện T trong tình trạng bị mất máu rất nhiều và khó thở), nên mặc dù Thế A chỉ bị thương tích 24%, nhưng hành vi của H đã phạm vào tội “Giết người” quy định tại Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

[3.2]. Đối với bị cáo H và anh Thế A trước đó hoàn toàn không có mâu thuẫn, nhưng chỉ vì lý do nhỏ nhặt, không rõ ràng (do xe ô tô taxi đón anh Thế

A) đỗ ở cổng có cản trở một phần lối đi chung về nhà, mà bị cáo H có hành vi rút dao ra đâm chém anh Thế A và mặc dù anh T4 anh bỏ chạy (hai lần) nhưng H vẫn cố tình dồn, đuổi để đâm, chém liên tục bất chấp hậu quả (trong đó có nhát đâm từ sau lưng thấu ngực phải hết sức nguy hiểm). Hành vi của H thể hiện tính côn đồ, hung hãn, coi thường pháp luật, sẵn sàng sử dụng vũ lực để xâm phạm tính mạng người khác được pháp luật bảo vệ, nên H phải chịu tình tiết định khung tăng nặng là “có tính chất côn đồ” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Cụ thể, điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

n) Có tính chất côn đồ”.

[4]. Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Quá trình điều tra, và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi xảy ra sự việc bị cáo ra đầu thú về hành vi phạm tội, tại phiên tòa bị hại anh Thế A xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong vụ việc này do hậu quả chết người chưa xảy ra, bị hại anh Thế A chỉ bị thương tích 24%, nên bị cáo được áp dụng quy định về “Phạm tội chưa đạt” theo khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự.

[5]. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện tính chất nguy hiểm, đã xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khoẻ của người khác; ảnh hưởng đến trật tự và an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm, áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi cuộc sống cộng đồng ở ngoài xã hội để chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng chống đối với loại tội phạm này.

[5.1]. Tuy nhiên, xem xét đến điều kiện hoàn cảnh, nhận thức pháp luật của bị cáo thấy rằng: Bị cáo Hậu sinh sống ở khu vực vùng núi khó khăn của huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, bản thân bị cáo có trình độ học vấn hạn chế (học hết lớp 01/12), bị cáo và vợ hiện đang phải nuôi 4 con nhỏ, thuộc hộ cận nghèo, hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn, do đó khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà về hình phạt đối với bị cáo H là phù hợp, có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Anh Thế A yêu cầu bị cáo H phải có trách nhiệm bồi thường dân sự, tổng số tiền là 60.000.000đ, trong đó: Chi phí viện phí là 2.855.674đ, chi phí người chăm nuôi anh Thế A trong quá trình nằm viện là

07 ngày, mỗi ngày tính 350.000₫ số tiền 2.450.000₫ (7 ngày x 350.000.000₫); tiền mua thuốc sau khi xuất viện là 981.180đ, tiền khám ban đầu tại Trung tâm Y tế huyện T là 56.710đ, tiền chụp khám lại tại trung tâm M là 960.000đ; tiền tổn thất tinh thần là 52.696.000đ. H đồng ý với yêu cầu bồi thường của anh Thế A, tuy nhiên hiện bị cáo đang bị tạm giam, khi nào ra trại có tiền bị cáo sẽ bồi thường, do đó cần buộc H phải bồi thường cho anh Thế A số tiền trên.

[7]. Về xử lý vật chứng: Đối với các mảnh gạch vỡ, vữa vỡ thu tại hiện trường, 01 đèn pin màu đen là tài sản của Bùi Xuân H đã cũ hỏng, H không đề nghị trả lại và 01 áo phông cộc tay thu giữ của anh Thế A đã cũ rách, không có giá trị sử dụng, anh Thế A không đề nghị trả lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8]. Đối với anh Thế A có hành vi dùng hai tay không đánh vào người của H nhưng không để lại thương tích gì, hơn nữa anh Thế A đánh lại H khi bị tấn công là để phòng vệ, do vậy, việc Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Thế A là đúng quy định pháp luật.

[9]. Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo và xin miễn án phí, do đó miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân H phạm tội “Giết người”.

  1. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 57 của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Bùi Xuân H 08 (T5) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/10/2023.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 468, 584, 585, 587 và 590 của Bộ luật Dân sự.

    Buộc bị cáo Bùi Xuân H bồi thường dân sự cho bị hại anh Nguyễn Thế A tổng số tiền là 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án số tiền nêu trên, người phải thi hành án không trả được thì hàng tháng còn phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu huỷ đối với các mảnh gạch vỡ, vữa vỡ thu tại hiện trường, 01 đèn pin màu đen đã cũ hỏng và 01 áo phông cộc tay đã cũ rách.

    Tất cả vật chứng nêu trên có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc lập ngày 15 tháng 7 năm 2024.

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí cho bị cáo H.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh phúc;
  • - Phòng Hồ sơ - CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Cục THADS tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Người bào chữa;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, Phòng HC-TP, Tòa Hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Trọng

THẨM PHÁN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Văn Thái Nguyễn Thanh Danh
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
Nguyễn Quang Bằng Nguyễn Văn An Đỗ Thị Kim Thúy

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh phúc;
  • - Phòng Hồ sơ - CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Các bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, Phòng HC-TP, Tòa Hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Danh

15

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự: giết người

  • Số bản án: 75/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân H phạm tội giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger