|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 75/2024/HS-ST Ngày 06 tháng 6 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Quốc Việt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Việt và bà Phan Thị Yến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Tôn Trung H, sinh ngày 13 tháng 3 năm 1997 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ H, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Tôn Trung H1, sinh năm 1974 và bà Trần Thanh L, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21 tháng 02 năm 2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. (có mặt).
- Nguyễn Văn C, sinh ngày 24 tháng 4 năm 1999 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ C, ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông (không rõ nhân thân) và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1979; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 15 tháng 11 năm 2016 bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 06 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em”, đến ngày 28 tháng 4 năm 2020 chấp hành xong bản án; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21 tháng 02 năm 2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. (có mặt).
- Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 09 tháng 12 năm 2005 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ A, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1969 và bà Lý Thị N, sinh năm 1968; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 22 tháng 11 năm 2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L khởi tố về tội “Gây rối trật tự công cộng”; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03 tháng 01 năm 2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L (có mặt).
- Lê Phú Q1, sinh ngày 17 tháng 02 năm 2007 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ A, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Lê Huỳnh Đ, sinh năm 1978 và bà Tô Thị Út M, sinh năm 1984; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 24 tháng 5 năm 2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích”; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02 tháng 06 năm 2024 cho đến nay trong vụ án khác, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L (có mặt).
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Q1: Ông Lê Huỳnh Đ, sinh năm 1978 và bà Tô Thị Út M, sinh năm 1984. Địa chỉ: Tổ A, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0979.232.xxx). (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo Q1: Luật sư Phan Ngọc M1, sinh năm 1954 – thuộc Đoàn Luật sư A đồng thời là Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, Thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
- Trần Thanh P, sinh ngày 02 tháng 02 năm 2004 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ B, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Trần Văn C1, sinh năm 1982 và bà Đinh Thái Hoàn M2, sinh năm 1983; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm tạm giam từ ngày 27 tháng 02 năm 2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. (có mặt).
- Trần Quốc H3, sinh ngày 13 tháng 9 năm 2002 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ B, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Trần Văn C2, sinh năm 1972 và bà Mai Thị Bạch T1, sinh năm 1973; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07 tháng 12 năm 2023 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L (có mặt).
- Bị hại:
- Nguyễn Thiên V, sinh năm 2007. Địa chỉ: Số B, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0814.454.xxx) (vắng mặt).
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1984. Địa chỉ: Số B, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0814.454.xxx) (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Võ Văn L1, sinh năm 2007. Địa chỉ: Tổ D, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0867.511.xxx). (vắng mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của L1: Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1968. Địa chỉ: Tổ D, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0867.511.xxx) (vắng mặt)
- Ngô Minh H4, sinh năm 2008. Địa chỉ: Ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0376.694.xxx). (có mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của H4: Bà Nguyễn Thị H5. Địa chỉ: Ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0376.694.xxx). (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Xuất phát từ mâu thuẫn trước đó giữa bị cáo H và người tên S (không rõ họ, nhóm Cung T). Khoảng 23 giờ ngày 27 tháng 6 năm 2023 trong lúc uống bia H rủ C, H3, Q1, P, H4 (sinh ngày 07 tháng 01 năm 2008) và 03 người chưa rõ nhân thân (tên thường gọi T4, Q2, D) đi tìm S để đánh. Quí điện thoại rủ thêm T, T rủ thêm Võ Văn L1 (sinh ngày 16 tháng 9 năm 2007) và Nguyễn Chung H6. Cả nhóm 11 người tập hợp tại Bến phà T thuộc phường B, thành phố L để tìm S đánh. C về nhà tại ấp B, xã M, thành phố L lấy 03 cây dao tự chế đến đưa cho H4, T, Q1 mỗi người giữ 01 cây; L1 mang theo 01 cây dao dài 60cm tay nắm bằng nhựa.
H điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở Q2, D; H3 điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở Q1; P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Future biển số 67B2-838.63 chở H4, T; C điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở T4; H6 điều khiển xe chở L1. Tìm không gặp S, đến khoảng 01 giờ sáng ngày 28 tháng 6 năm 2023 cả nhóm đi đến vựa trái cây Ú, tổ B, khóm P, phường M thấy em Nguyễn Thiên V (sinh ngày 07 tháng 7 năm 2007) và H7 (chưa rõ nhân thân) L1 la lên “nó kìa” thì H, C, H3, P dừng xe lại cho T, H4, Q1, L1, H4 xuống xe cầm dao xông đến chém. Quí và L1 rượt chém H7 nhưng H7 chạy kịp, T và H4 rượt chém V thì V vấp ngã T chém vào chân V, H4 chém vào tay V. Sau khi chém V xong các bị cáo đưa dao cho C, C ném các dao xuống sông. Ngày 28 tháng 8 năm 2023, gia đình em Nguyễn Thiên V có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, quá trình điều tra cha V đã nhận tiền bồi thường thiệt hại số tiền 15.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường thêm, xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo sau khi bị phát hiện đã đến cơ quan công an đầu thú khai nhận hành vi phạm tội, trừ bị cáo T.
Kết luận giám định số 729/23/KLTTCT-TTPY ngày 10 tháng 11 năm 2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh A, đối với Nguyễn Thiên V: Các kết quả chính: Sẹo vết thương trùng vết mổ mặt sau ngoài từ 1/3 giữa đến 1/3 dưới cánh tay phải kích thước (11 x 0.8) cm. Gây: Đứt bán phần gân tam đầu cánh tay phải, đã phẫu thuật khâu nối gân. Hiện tại không ảnh hưởng đến chức năng vận động cánh tay. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03% (không ba phần trăm). Do vật sắc gây nên; Sẹo mờ mặt lòng đốt 2 ngón 1 bàn chân phải kích thước (02 x 0.1) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01% (không một phần trăm). Do vật sắc gây nên; Sẹo vết thương trùng vết mổ mặt sau từ 1/3 dưới cẳng chân trái đến gót chân trái kích thước (09 x 0.8) cm, tỷ lệ là 03% (không ba phần trăm). Gây: Đứt gân gót chân trái, đã phẫu thuật khâu nối gân, hiện tại không ảnh hưởng chức năng vận động đi lại, không ngắn gân. Tỷ lệ là 11% (mười một phần trăm). Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 14% (mười bốn phần trăm). Do vật sắc gây nên. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Nguyễn Thiên V là 17%.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu của Võ Văn L1 01 cây dao dài 60cm có tay nắm bằng nhựa, 01 nón bảo hiểm, 01 áo khoác. Thu của Trần Thanh P 01 xe mô tô biển số 67B2-838.63.
Tại cáo trạng số 66/CT-VKS-HS ngày 16/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố các bị cáo Tôn Trung H, Nguyễn Ngọc T, Lê Phú Q1, Nguyễn Văn C, Trần Thanh P, Trần Quốc H3 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o, khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Tôn Trung H từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn C, Trần Thanh P, Trần Quốc H3 từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o, khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T, Lê Phú Q1 từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao dài 60cm có tay nắm bằng nhựa, 01 nón bảo hiểm, 01 áo khoác thu của Võ Văn L1; Tịch thu sung vào NSNN đối với 01 xe mô tô biển số 67B2-838.63 của Trần Thanh P đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội
- Áp dụng: Điều 590 Bộ luật dân sự, ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường của các bị cáo và bị hại. Bị hại đã nhận bồi thường số tiền 15.000.000 đồng và không yêu cầu thêm nên không xét đến.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Q1: Đề nghị xem xét bị cáo Q1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo là người chưa thành niên. Đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Các bị cáo Tôn Trung H, Nguyễn Ngọc T, Lê Phú Q1, Nguyễn Văn C, Trần Thanh P, Trần Quốc H3 thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp hung khí đã được thu giữ. Phù hợp kết luận giám định pháp y về các thương tích đã được trưng cầu giám định, phù hợp các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 23 giờ ngày 27/6/2023 H rủ các bị cáo đi tìm S để đánh, đến khoảng 01 giờ ngày 28/6/2023 khi không tìm được Sự các bị cáo H, C, T, Q1, P, H3 đến vựa trái cây Út H8 thấy em Nguyễn Thiên V (sinh ngày 07 tháng 7 năm 2007) và H7 (chưa rõ nhân thân) L1 la lên “nó kìa. Quí và L1 rượt chém H7 nhưng H7 chạy kịp, T và H4 rượt chém Vương T5 chém vào chân, H4 chém vào tay. Hành vi của các bị cáo xuất phát từ lời rủ của H, các bị cáo thực hiện với vai trò đồng phạm. Mặc dù không có mâu thuẫn hay quen biết trước đó với V, nhưng các bị cáo sử dụng dao để chém là dùng hung khí nguy hiểm và phạm tội có tính chất côn đồ, đây là các tình tiết được quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Các bị cáo gây thương tích cho bị hại với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 17%.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Tôn Trung H, Nguyễn Ngọc T, Lê Phú Q1, Nguyễn Văn C, Trần Thanh P, Trần Quốc H3 đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 02 năm đến 06 năm tù (Tội phạm nghiêm trọng)
Đối với, Võ Văn L1, sinh ngày 16 tháng 9 năm 2007; Ngô Minh H4, sinh ngày 07 tháng 01 năm 2008 nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội “Cố ý gây thương tích”. Nguyễn Chung H6 đã chết ngày 07 tháng 02 năm 2024, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không xem xét xử lý. Đối với T4, Quyền, D chưa rõ nhân thân, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục làm rõ để xử lý sau theo quy định của pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của con người, đến quyền tự do thân thể của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Các bị cáo thực hiện hành vi vào đêm khuya vắng, điều khiển phương tiện tham gia giao thông khi chở ba người, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong nhân dân mỗi khi có mâu thuẫn hay không có mâu thuẫn sử dụng hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho người khác.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H là người thành niên rủ bị cáo Q1 là người dưới 18 tuổi nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự với tình tiết xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Q1 rủ T, T rủ L1 là người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội nhưng T, Q1 cũng dưới 18 tuổi nên không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự này.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đầu thú trừ bị cáo Q1, T, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Khi quyết định hình phạt nhận thấy: Bị cáo H là người khởi xướng và rủ các bị cáo khác đi đánh nhau, trong đó có bị cáo Q1 là người dưới 18 tuổi; C là người chuẩn bị dao phát cho các bị cáo, sau khi gây thương tích là người ném 03 cây dao xuống sông, C có nhân thân xấu; Q1, T trực tiếp cầm dao xông vào, T gây thương tích cho bị hại, Q1, T đều có nhân thân xấu ngoài lần phạm tội này còn thực hiện hành vi phạm tội khác; P và H3 với vai trò điều khiển xe chở các bị cáo. Do đó, mức án của bị cáo H cao hơn các bị cáo Chung; bị cáo C cao hơn bị cáo Q1, T; đối với bị cáo Q1, T khi thực hiện hành vi phạm tội là người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nên có xem xét áp dụng mức hình phạt tù không quá ¼ mức phạt tù mà điều luật quy định. Bị cáo P, H3 có vai trò ngang nhau nên mức hình phạt tương đương. Đối với đề nghị được hưởng án treo của các bị cáo và luật sư bào chữa cho bị cáo Q1, xét thấy các bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ, bị cáo Chung, Q1, T có nhân thân xấu không đủ điều kiện được hưởng án treo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường thêm. Sự thỏa thuận của các bên là tự nguyện nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
[6] Về vật chứng: 01 cây dao dài 60cm có tay nắm bằng nhựa là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội; 01 nón bảo hiểm, 01 áo khoác liên quan đến hành vi phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với 01 xe mô tô biển số 67B2-838.63 bị cáo P sử dụng là phương tiện chở bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu phát mãi sung vào ngân sách Nhà nước.
[7] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo Tôn Trung H, Nguyễn Ngọc T, Lê Phú Q1, Nguyễn Văn C, Trần Thanh P, Trần Quốc H3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Tôn Trung H, Nguyễn Ngọc T, Lê Phú Q1, Nguyễn Văn C, Trần Thanh P, Trần Quốc H3 phạm tội “Cố ý gây thương tích”
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Tôn Trung H 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (21/02/2024)
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (21/02/2024)
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (03/01/2024)
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Phú Q1 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Thanh P 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (01/3/2024)
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Quốc H3 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (07/12/2023)
Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 585, 590 Bộ luật dân sự: Công nhận sự thỏa thuận bồi thường số tiền 15.000.000 đồng giữa các bị cáo và bị hại.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao dài 60cm có tay nắm bằng nhựa, 01 nón bảo hiểm, 01 áo khoác thu của Võ Văn L1. Tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô biển số 67B2-838.63 của Trần Thanh P. (Đặc điểm tang vật như Quyết định chuyển vật chứng ngày 25/4/2024).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo H, C, Q1, T, P, H3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị cáo Q1, người bào chữa cho bị cáo Q1; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Quốc Việt |
Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 75/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Tôn Trung Hậu 03 (ba) năm tù. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Chung 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Thương 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Phú Quí 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù). Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Thanh Phúc 02 (hai) năm tù. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Quốc Hưng 02 (hai) năm tù.
