Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ TÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 04-9-2024

V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Sơn Thị Vành Đa.

Ông Nguyễn Văn Kiệt.

- Thư ký phiên Tòa: Bà Trương Thị Anh Thư là thư ký Tòa án nhân

huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên tòa: Bà

Triệu Thị Mộng Lý– Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 170/2024/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 6năm 2024 về ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lý Thị Phương T;

Địa chỉ: ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Võ Chí D;

Địa chỉ: ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 6 năm 2024 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lý Thị Phương T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị Phương T và anh Võ Chí D có tổ chức lễ cưới vào đầu năm 2005 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thuận, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 10 tháng 11 năm 2005, sau khi kết hôn thì anh chị sống tại ấp Tam Sóc B1, xã Mỹ Thuận, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Thời gian đầu vợ chồng anh chị chung sống với nhau rất vui vẻ và

hạnh phúc. Nhưng vài năm nay vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Từ khi xảy ra mâu thuẫn anh chị đã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được. Anh chị nhận thấy vợ chồng không hàn gắn được nên đã sống ly thân, khi sống ly thân anh chị không thường xuyên liên lạc cũng như không gặp mặt nhau. Nay chị Tnhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, anh chị không còn thương yêu còn thương yêu nhau nên chị Tyêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với anh Võ Chí D.

Về con chung: Chị Lý Thị Phương T tự khai trong thời gian chung sống, chị T và anh D có 02 (hai) người con chung là Võ Trọng T(nam, sinh ngày 01/11/2006), Võ Trọng T (nam, 12/6/2017), hiện nay cháu T và cháu T đang sống với chị Trang. Sau khi ly hôn chị Tyêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Võ Trọng T(nam, sinh ngày 01/11/2006), Võ Trọng T(nam, 12/6/2017) cho đến khi cháu Tvà cháu Tđủ 18 (mười tám) tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Tkhông yêu cầu anh Dcấp dưỡng nuôi cháu Võ Trọng T (nam, sinh ngày 01/11/2006), Võ Trọng T (nam, 12/6/2017) vì hiện nay chị T có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng cháu T và cháu T.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lý Thị Phương T tự khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đối với bị đơn anh Võ Chí D: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tóm tắt nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của nguyên đơn chị Lý Thị Phương T tại Thông báo thụ lý vụ án số: 291/TB-TLVA, ngày 27 tháng 6 năm 2024 và đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn anh Võ Chí D, cũng như đã triệu tập hợp lệ anh Dđến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần nhưng anh Dđều không đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Sau đó Tòa án đã Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh Dnhưng anh Dkhông gửi văn bản ghi ý kiến của anh Dđối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của chị Lý Thị Phương T.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng trình bày ý kiến như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lý Thị Phương T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn chị Lý Thị Phương T vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 20 tháng 8 năm 2024); Bị đơn anh Võ Chí D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng cả hai lần đều vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn: Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng nhận được đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lý Thị Phương T cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo do nguyên đơn chị Lý Thị Phương T nộp trực tiếp tại Tòa án. Ngay sau khi nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án thực hiện thủ tục nhận, xử lý đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Lý Thị Phương T và thụ lý vụ án đúng quy định tại Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Lý Thị Phương T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa nguyên đơn chị Lý Thị Phương T và bị đơn anh Võ Chí D, có nơi cư trú tại ấp Tam Sóc B1, xã Mỹ Thuận, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị Phương T và anh Võ Chí D xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đủ điều kiện kết hôn. Do đó việc chị Lý Thị Phương T và anh Võ Chí D tiến đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thuận, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 10 tháng 11 năm 2005 là hoàn toàn đúng theo đúng quy định pháp luật cho nên được pháp luật công nhận đây là hôn nhân hợp pháp và cần giải quyết hậu quả phát sinh từ cuộc hôn nhân này.

Trong quá trình chung sống theo chị Ttrình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã và không tìm được tiếng nói chung trong đời sống hôn nhân. Chị Tvà anh Dđã sống ly thân nhiều năm nay, khi xảy ra mâu thuẫn chị Tđã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được và vợ chồng tiếp tục xảy ra mâu thuẫn. Hiện nay chị Tvà anh Dkhông còn chung sống với nhau như vợ chồng, anh chị đều có công việc riêng và có cuộc sống riêng không ai quan tâm, chăm sóc cho ai. Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá

trình giải quyết vụ án chị Tvẫn cương quyết xin ly hôn với anh Võ Chí D.

Hội đồng xét xử xét thấy theo quy định tại Khoản 1 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Đối chiếu với quan hệ hôn nhân giữa chị Tvà anh Dthì hiện nay, chị Tvà anh Dsống ly thân, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng thực trạng mâu thuẫn giữa chị Tvà anh Dđã đến mức trầm trọng, hiện nay anh chị không còn sống chung với nhau như vợ chồng, anh chị không còn thương yêu và chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Lý Thị Phương T.

[5] Về con chung: Xét yêu cầu của chị Lý Thị Phương T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Võ Trọng T(nam, sinh ngày 01/11/2006), Võ Trọng T(nam, 12/6/2017) cho đến khi cháu Thành, cháu Tđủ 18 (mười tám) tuổi. Hội đồng xét xử thấy, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Nhận thấy, từ khi chị Tvà anh Dsống ly thân cho đến nay thì cháu Tvà cháu Tđều do chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng về tâm lý phát triển bình thường, được đi học đầy đủ. Tại biên bản ghi nhận ý kiến cháu Thành, cháu Tthì các cháu đều có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với chị Lý Thị Phương T.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng nhằm để đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, ổn định cuộc sống cũng như tâm sinh lý của cháu Võ Trọng Tvà Võ Trọng Tnên việc giao cháu Võ Trọng Tvà Võ Trọng Tcho chị Lý Thị Phương T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó, căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Võ Trọng T(nam, sinh ngày 01/11/2006), Võ Trọng T(nam, 12/6/2017) cho chị Lý Thị Phương T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 (mười tám) tuổi. Anh Võ Chí D được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Dthực hiện quyền này, theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Đáng lẽ ra, anh Võ Chí D là người không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án chị Tcho rằng hiện nay chị Tcó công việc làm ổn định, thu nhập hằng tháng của chị Tđảm bảo nên chị Tcó khả năng, điều kiện để nuôi dưỡng các con chung nên chị Ttự nguyện không yêu cầu anh Dcấp dưỡng nuôi cháu Võ Trọng T(nam, sinh ngày 01/11/2006) và cháu Võ Trọng T(nam, 12/6/2017).

[7] Về tài sản chung: Chị Lý Thị Phương T tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

[8] Về nợ chung: Chị Lý Thị Phương T tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

[9] Xét đề nghị của Kiểm sát viên như đã nhận định nêu trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về án phí: Nguyên đơn chị chị Lý Thị Phương T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lý Thị Phương T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị Phương T được ly hôn với anh Võ Chí D.

2. Về con chung:

2.1 Giao con chung tên cháu Võ Trọng T(nam, sinh ngày 01/11/2006), cháu Võ Trọng T(nam, ngày 12/6/2017) cho chị Lý Thị Phương T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Võ Trọng T(nam, sinh ngày 01/11/2006), cháu Võ Trọng T(nam, ngày 12/6/2017) đủ 18 (mười tám) tuổi.

2.2 Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lý Thị Phương T tự khai có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng cháu Võ Trọng T(nam, sinh ngày 01/11/2006), cháu Võ Trọng T(nam, ngày 12/6/2017) và tự nguyện không yêu cầu anh Võ Chí D cấp dưỡng nuôi cháu cháu Thành, cháu Tnên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

3. Về tài sản chung: Chị Lý Thị Phương T tự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về nợ chung: Chị Lý Thị Phương T tự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Lý Thị Phương T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005687 ngày 27 tháng 6 năm 2024, chị Lý Thị Phương T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

5. Nguyên đơn; bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (Phòng KTNV&THA);
  • - UBND xã Mỹ Thuận, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thu Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HNGĐ-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn và tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 75/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn và tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger