TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN A THÀNH PHỐ P Bản án số: 75/2024/HS-ST Ngày 03-7-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN A, THÀNH PHỐ P
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Sinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lã Anh Tuấn
- Bà Trần Thị Trúc Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận A, thành phố P.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận A, thành phố P tham gia phiên toà: Bà Phạm Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận A, thành phố P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2024/TLST- HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Hữu H; sinh ngày 05 tháng 6 năm 1964 tại thành phố P; nơi cư trú: thôn Nhất Trí, xã C, huyện D, thành phố P; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 5/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hữu T và bà Trương Thị M; đã ly hôn và có 01 con;
Tiền án: Bản án số 04/HS-ST ngày 20-01-1995 của Toà án nhân dân huyện An H xử phạt 24 tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích" (chưa được xóa án tích); Bản án số 180/HSST ngày 25-8-2006 của Toà án nhân dân thành phố P xử phạt 42 tháng tù về tội "Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia" (chưa được xoá án tích). Tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 74/HS-ST ngày 14-9-2000 của Toà án nhân dân huyện An H, thành phố P xử phạt 20 tháng tù về tội "Hành hạ cha mẹ" (đã được xoá án tích).
Bị tạm giữ từ ngày 12-3-2024 đến ngày 18-3-2024 chuyển tạm giam. Có mặt.
Người chứng kiến: Ông Đinh Xuân B, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 05 phút ngày 11-3-2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Trần Hữu H đã đi xe mô tô biển kiểm soát: 15H1-00354 đến khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, quận C, thành phố P gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết 02 túi nilon kích thước (1,5x1,5)cm chứa ma túy đá với giá 400.000 đồng được cất giấu trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. Đến khoảng 17 giờ 10 phút cùng ngày, H cất giữ số ma túy trên trong túi áo khoác bên phải và đi xe mô tô đến khu vực trước cửa nhà số 332 đường Trường Chinh, phường H, quận A, thành phố P thì bị Tổ công tác Công an quận A phát hiện, bắt giữ quả tang và thu giữ vật chứng là số ma túy trên. Ngoài ra, còn thu giữ của H 01 xe mô tô, biển kiểm soát: 15H1-00354 đã qua sử dụng và số tiền 50.000 đồng. Tại bản kết luận giám định số 283/KL-KTHS(MT) ngày 14-3-2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố P, kết luận: “ Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,19 gam, loại: Methamphetamine”. Ngày 11-3-2024, Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố P tiến hành test thử chất ma túy đối với Trần Hữu H với kết quả: “dương tính với chất ma túy Methamphetamine".
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận A đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô, biển kiểm soát: 15H1-003.54 cho anh Trần Hữu Dương để quản lý do không biết, không liên quan đến việc H đi mua và cất giữ trái phép chất ma túy.
Bản Cáo trạng số 82/CT-VKSKA ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận A, thành phố P truy tố Trần Hữu H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận các tình tiết vụ án phù hợp Cáo trạng, thừa nhận các tài liệu trong hồ sơ vụ án là khách quan, đúng sự thật, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội danh, xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Trần Hữu H từ 5 năm 6 tháng tù đến 6 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt bổ sung: Không. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao bì được niêm phong trong 01 bì thư dán kín, niêm phong; trả lại cho bị cáo 50.000 đồng không liên quan phạm tội. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tài liệu, chứng cứ cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo, hoặc người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định Bộ luật Tố tụng hình sự. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, hoặc người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bởi vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phòng vật chứng, sơ đồ hiện trường, phiếu xét nghiệm, biên bản mở niêm phong lấy mẫu giám định và niêm phong lại, biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định, biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở xác định: Hồi 17 giờ 10 phút ngày 11-3-2024, tại khu vực trước cửa nhà số 332 đường Trường Chinh, phường H, quận A, thành phố P, Trần Hữu H (thuộc trường hợp tái phạm) bị bắt quả tang có hành vi cất giữ trái phép 0,19 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng, nH không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Bởi vậy, đủ căn cứ kết luận Trần Hữu H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" với tình tiết định khung hình phạt "tái phạm nguy hiểm" quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân. Bởi vậy, cần phải xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết theo quy định Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo thành khẩn khai báo, có bố, mẹ được tặng thưởng huân huy chương kháng chiến cứu nước, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Trên cơ sở xem xét khối lượng ma túy, đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần xử phạt bị cáo hình phạt tù theo mức khởi điểm đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát, bảo đảm trừng trị người phạm tội, giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới và giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.
[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về việc tịch thu tiêu hủy đối với các vật chứng của vụ án là vật Nhà nước cấm lưu hành gồm: Toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định trong 01 phong bì thư niêm phong. Trả lại cho bị cáo Trần Hữu H 50.000 đồng do không liên quan việc phạm tội.
[9] Đối với người bán ma túy cho bị cáo, hiện chưa xác định được lai lịch, địa chỉ, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Trần Hữu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt: Trần Hữu H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 12 tháng 3 năm 2024.
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm: Số ma túy còn lại sau giám định cùng các vỏ bao bì được niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín niêm phong số 283MT/PC09 ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố P. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20 tháng 6 năm 2024 giữa Cơ quan Điều tra Công an quận A và Chi cục Thi hành án dân sự quận A, thành phố P).
Trả lại cho bị cáo Trần Hữu H 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) (Theo Giấy ủy nhiệm chi lập ngày 17 tháng 6 năm 2024 giữa Công an quận A và Chi cục Thi hành án dân sự quận A).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Sinh |
5
Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN A, THÀNH PHỐ P về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 75/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN A, THÀNH PHỐ P
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần hữu H
