TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2024/DS-ST
Ngày: 01 - 8 - 2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH
TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Cảnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Hùng
2. Ông Nguyễn Hoàng Tiến
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Vào ngày 01 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 77/2024/TLST- DS ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST- DS ngày 04 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 118/2024/QĐST-DS, ngày 16 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thúy H, sinh năm 1987 – có mặt
Nơi cư trú: ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long
Bị đơn:
1. Anh Đặng Văn B, sinh năm 1974 – vắng mặt
2. Chị Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1972 – vắng mặt
Cùng nơi cư trú: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 25/4/2024, lời khai và các tài liệu, chứng cứ khác trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị Thúy H trình bày:
Vào cuối năm 2021 vợ chồng chị H1 và anh B có hỏi mượn của chị Hằng số tiền là 100.000.000 đồng, vì là bà con nên không có hợp đồng hay viết biên nhận, hai bên thỏa thuận miệng thời gian mượn tiền là 02 tháng kể từ ngày mượn và không có lãi suất. Khi đến hạn vợ chồng chị H1 và anh B không có trả lại số tiền mượn là 100.000.000 đồng cho chị H, thời gian kéo dài đến năm 2022 thì vợ chồng chị H1 và anh B tự thỏa thuận trả lãi suất cho chị H là 3.000.000 đồng/tháng/100.000.000 đồng; vợ chồng chị H1 và anh B trả lãi suất cho chị H được 12 tháng của năm 2022. Vào ngày 22/11/2023 chị H1 có viết biên nhận nợ cho chị Hằng số tiền là 100.000.000 đồng và từ năm 2023 cho đến nay chị H1 và anh B không có trả lãi suất cho chị H. Hiện tại vợ chồng chị H1 và anh B còn nợ chị H 100.000.000 đồng tiền vốn vay.
Nay chị H yêu cầu vợ chồng chị H1 và anh B có nghĩa vụ liên đới trả lại cho chị H 100.000.000 đồng vốn vay, chị H không yêu cầu tính lãi suất. Ngoài ra chị H không có yêu cầu gì khác.
- Bị đơn chị Nguyễn Thanh H1 và anh Đặng Văn B trình bày: Tại bản tự khai ngày 04/7/2024 của chị H1 và tại bản tự khai ngày 08/7/2024 của anh B đều thống nhất và thừa nhận có vay của chị Hằng số tiền là 100.000.000 đồng; và hiện tại còn nợ chị Hằng số tiền vốn vay là 100.000.000 đồng và xin trả dần cho chị H mỗi tháng là 2.000.000 đồng cho khi hết nợ. Ngoài ra chị H1 và anh B không có ý kiến và yêu cầu gì khác.
- Các tài liệu, chứng cứ của vụ án: Đã được Tòa án công khai tại Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vào ngày 04/7/2024.
- Các tình tiết, sự kiện mà các bên đương sự thống nhất, không thống nhất.
+ Các bên đương sự thống nhất: Vợ chồng chị H1 và anh B với chị H đều thống nhất chị H1 và anh B hiện tại còn nợ chị Hằng số tiền vốn vay là 100.000.000 đồng và không có yêu cầu khấu trừ lãi suất với nhau.
+ Các bên đương sự không thống nhất: Vợ chồng chị H1 và anh B yêu cầu được trả dần mỗi tháng là 2.000.000 đồng cho đến khi hết nợ, nhưng chị H không đồng ý.
Do vụ việc không thuộc khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng Dân sự nên Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp không tham gia kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự theo quy định của phát luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện chị H yêu cầu vợ chồng chị H1 và anh B có nghĩa vụ liên đới trả tiền vốn vay là tranh chấp về hợp đồng dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình.
[2]. Về thủ tục tố tụng:
Tòa án nhân dân huyện Tam Bình tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các tài liệu chứng cứ do đương sự tự giao nộp, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, các bên đương sự là người đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất tâm thần nên vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia kiểm sát việc tuân thủ theo pháp luật tại phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị H1 và anh B đã được Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ lần thứ hai, nhưng chị H1 và anh B vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị H1 và anh B.
[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tại phiên tòa chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Xét yêu cầu của chị H về việc yêu cầu vợ chồng chị H1 và anh B có nghĩa liên đới trả cho chị Hằng số tiền vốn vay là 100.000.000 đồng và chị H không có yêu cầu tính lãi suất.
Hội đồng xét xử, xét thấy: Tại bản tự khai ngày 04/7/2024 của chị H1 và tại bản tự khai ngày 08/7/2024 của anh B đều thống nhất và thừa nhận có vay của chị Hằng số tiền là 100.000.000 đồng, nhưng đến nay chưa trả xong cho chị H. Theo quy định về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh được quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Như vậy, việc vợ chồng chị H1 và anh B đã vay của chị Hằng số tiền 100.000.000 đồng là có thật. Do đó, Hội đồng xét xử buộc vợ chồng chị H1 và anh B có nghĩa liên đới trả cho chị Hằng số tiền vốn vay là 100.000.000 đồng. Chị H không yêu cầu tính lãi suất nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị H.
Buộc vợ chồng chị H1 và anh B có nghĩa liên đới trả cho chị Hằng số tiền vốn vay là 100.000.000 đồng; chị H không yêu cầu tính lãi suất nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc vợ chồng chị H1 và anh B có nghĩa liên đới phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với yêu cầu của chị H được chấp là 100.000.000 đồng x 5% = 5.000.000 đồng.
- Chị H không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm do toàn bộ yêu cầu chị được chấp nhận. Hoàn trả lại cho chị Hằng số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 2.500.000 đồng theo biên lai thu số No 0014153 ngày 14/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Bình.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 5 Điều 95 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Thúy H.
Buộc vợ chồng chị Nguyễn Thanh H1 và anh Đặng Văn B có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Lê Thị Thúy Hằng số tiền là 100.000.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người bị thi hành án chưa tự nguyện thi hành án xong thì phải chịu thêm phần tiền lãi trên số tiền phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với khoản thời gian chưa thi hành án xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm
Buộc vợ chồng chị Nguyễn Thanh H1 và anh Đặng Văn B có nghĩa liên đới phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 5.000.000 đồng.
- Chị H không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm do toàn bộ yêu cầu chị được chấp nhận. Hoàn trả lại cho chị Hằng số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 2.500.000 đồng theo biên lai thu số No 0014153 ngày 14/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Bình.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Văn Cảnh |
Bản án số 75/2024/DS-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 75/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LÊ THỊ THÚY HẰNG - ĐẶNG VĂN BE
