Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 75/2025/HSST

Ngày: 25/03/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tô Thị Kim Dung

Bà Nguyễn Thị Thuỷ

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Đức - Thư ký Toà án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 25/03/2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2025/TLST-HS ngày 27/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2025/QĐXXST- HS ngày 14/3/2025, đối với bị cáo:

-Họ và tên: Trương Văn L. Sinh ngày 28/11/1995;

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

HKTT: Thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không; Đảng phải: Không;

Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Con ông: Trương Văn N – Sinh năm 1963;

Con bà: Ngô Thị D – Sinh năm 1965;

A, chị, em ruột: Có 03 người, bị can là con thứ hai;

Vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 98/2020/HSST ngày 08/5/2020 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, TP. xử phạt Trương Văn L 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, về tội “Trộm cắp tài sản” (đã xóa án tích).

nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, về tội “Trộm cắp tài sản” (đã xóa án tích).

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2024 đến nay. Hiện tại, bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại:

  1. Ông Vi Văn H, sinh năm 1983. Nơi cư trú: xã H, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  2. Ông Trương Văn T, sinh năm 1995. Nơi cư trú: xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 23/12/2024, Trương Văn L sinh năm 1995; HKTT: Thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa đi bộ đến khu đô thị V, phường P, quận H, Hà Nội nhằm mục đích trộm cắp tài sản. Khi đến trước số nhà C TT21, KĐT V, phường P, quận H, Hà Nội thì L nhìn thấy nhà xây thô, không có ai ở, cửa bị hỏng nên L chui vào trong nhà này nhằm mục đích trèo sang các căn nhà bên cạnh để trộm cắp tài sản.

Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, L trèo lên mái nhà căn hộ 31 TT21, KĐT V, rồi đi bộ sang mái của căn nhà số C TT21 thì thấy căn nhà số 34 TT21 này đang xây thô, không có cửa. L trèo từ mái xuống tầng 4 của căn nhà số C TT21 thì thấy phòng phía ngoài tầng 4 có 01 (một) chiếc máy khoan bê tông và 03 (ba) chiếc máy mài cầm tay, không có ai trông giữ. L lén lút lấy số máy mài, máy khoan bê tông trên để gọn lại một chỗ, rồi đi vào phòng phía bên trong tầng 4. Tại đây, L thấy ông Vi Văn H sinh năm 1983; HKTT: Xã H, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa và ông Trương Văn T sinh năm 1995, HKTT: Xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đang ngủ trên sàn nhà, bên cạnh có để 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu đen và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO CPH1912-A5S màu đen. L đã lén lút lấy trộm 02 (hai) chiếc điện thoại trên và cất vào túi quần bên phải đang mặc. Sau đó, L quay lại lấy 01 chiếc máy khoan bê tông và 03 (ba) chiếc máy mài cầm tay, rồi trèo lên mái của căn nhà số C TT21, rồi đi bộ sang căn nhà số C TT21, cất giấu toàn bộ số tài sản trộm cắp được vào trong 01 chiếc ba lô màu đen của L, rồi đi ngủ.

Ngày 24/12/2024, ông Vi Văn H và ông Trương Văn T phát hiện bị mất trộm tài sản nên đã đến Công an phường P trình báo sự việc. Công an phường P đã tiến hành rà soát xung quanh hiện trường nơi xảy ra sự việc thì phát hiện Trương Văn L đang đeo 01 chiếc balo màu đen đi trên đường đoạn trước cửa số 51 TT20, KĐT V, phường P, quận H, TP Hà Nội. Công an phường P tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện bên trong chiếc balo của L có các tài sản giống đặc điểm như ông H và ông T trình báo. Công an phường P đã đưa L về trụ sở để làm rõ. Cùng ngày 24/12/2024, Trương Văn L đã đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm như trên.

Vật chứng của vụ án đã thu giữ do Trương Văn L giao nộp:

  • 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu đen, số imeil: 3576250806695; số imei 2: 357651080669525, đã qua sử dụng.
  • 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO CPH1912 – A5S màu đen, số imei1: 865222044366254; số imei2: 2865222044366247, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) chiếc máy mài cầm tay nhãn hiệu ANGLE GRINDER, Model: KP-7100L, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) chiếc máy mài cầm tay nhãn hiệu ANGLE GRINDER DCA ASM06-100, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) chiếc máy mài cầm tay nhãn hiệu Makita, M: 9553, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) chiếc máy khoan bê tông nhãn hiệu GEOX, Model: 2603, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) chiếc balo bằng vải màu đen, kích thước (39x45)cm.

Ngày 25/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã có văn bản yêu cầu định giá tài sản số 11554 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H định giá đối với tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án nêu trên. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 205 ngày 25/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H, kết luận:

  • “- Giá trị tài sản 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu đen, số imeil: 3576250806695; số imei 2: 357651080669525, đã qua sử dụng, đã thu được tài sản là 1.200.000 đồng;
  • Giá trị tài sản 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO CPH1912 – A5S màu đen, số imeil: 865222044366254; số imei2: 2865222044366247, đã qua sử dụng, đã thu được tài sản là 2.160.000 đồng;
  • Giá trị tài sản 01 (một) chiếc máy mài cầm tay nhãn hiệu ANGLE GRINDER, Model: KP- 7100L, đã qua sử dụng, đã thu được tang vật là 250.000 đồng;
  • Giá trị tài sản 01 (một) chiếc máy mài cầm tay nhãn hiệu ANGLE GRINDER DCA ASM06-100, đã qua sử dụng, đã thu được tài sản là 250.000 đồng;
  • Giá trị tài sản 01 (một) chiếc máy mài cầm tay nhãn hiệu Makita, M: 9553, đã qua sử dụng, đã thu được tài sản là 250.000 đồng;
  • Giá trị tài sản 01 (một) chiếc máy khoan bê tông nhãn hiệu GEOX, Model: 2603, đã qua sử dụng, đã thu được tài sản là 600.000 đồng”.

Tổng giá trị tài sản trong vụ trộm cắp tài sản nêu trên là: 4.710.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định: Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO CPH1912-A5S màu đen, số imeil: 865222044366254; số imei2: 2865222044366247 là tài sản của ông Vi Văn H. Đối với 01 chiếc máy mài cầm tay nhãn hiệu ANGLE GRINDER, Model: KP- 7100L; 01 chiếc máy mài cầm tay nhãn hiệu ANGLE GRINDER DCA ASM06-100; 01 chiếc máy mài cầm tay nhãn hiệu Makita, Model: 9553; 01 chiếc máy khoan bê tông nhãn hiệu GEOX, Model: 2603; 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu đen, số imeil: 3576250806695; số imei 2: 357651080669525, đều đã qua sử dụng là tài sản của ông Trương Văn T.

Ngày 30/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 8249 bằng hình thức trao trả vật chứng nêu trên cho chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Trương Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 51/CT-VKS-HĐ ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội đã truy tố Trương Văn L về tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo Trương Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố, không kêu oan, nói lời sau cùng bị cáo xin được khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về với gia đình để làm lại cuộc đời.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông phát biểu tại phiên tòa:

Giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản cáo trạng số 51/CT-VKS-HĐ ngày 26/02/2025. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, lời khai nhận tội của bị cáo Trương Văn L, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm:

Về hình phạt:

  • + Hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo: Trương Văn L từ 12 tháng đến 15 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2024.
  • + Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có điều kiện để thi hành án. Do đó, không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
  • Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì nên không xét.
  • Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu, tiêu hủy đối với 01 (một) chiếc balo bằng vải màu đen, kích thước (39x45)cm của Trương Văn L được dùng vào việc phạm tội.
  • Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 của UBTVQH về án phí, lệ phí, buộc bị cáo Trương Văn L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về thẩm quyền, tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án:

Vụ án xảy ra tại địa bàn quận H, Thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân quận Hà Đông theo quy định tại Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp. Các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ được thu thập hợp pháp nên là chứng cứ trong vụ án.

[2]. Về sự vắng mặt của người bị hại: xét thấy hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của người bị hại, việc vắng mặt của người bị hại không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.

[3]. Hành vi phạm tội và tội danh:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trương Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt giữ, biên bản xác định hiện trường vụ án, vật chứng thu giữ, phù hợp với kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận:

Ngày 23/12/2024, tại căn nhà số C T, Khu đô thị V, phường P, quận H, Hà Nội, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, Trương Văn L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO CPH1912-A5S màu đen trị giá 2.160.000 đồng của ông Vi Văn H; 01 chiếc máy mài cầm tay nhãn hiệu ANGLE GRINDER Model: KP- 7100L trị giá 250.000 đồng; 01 chiếc máy mài cầm tay nhãn hiệu ANGLE GRINDER DCA ASM06-100 trị giá 250.000 đồng; 01 chiếc máy mài cầm tay nhãn hiệu Makita Model: 9553 trị giá 250.000 đồng; 01 chiếc máy khoan bê tông nhãn hiệu GEOX Model: 2603 trị giá 600.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu đen trị giá 1.200.000 đồng của ông Trương Văn T. Tổng giá trị tài sản L chiếm đoạt là 4.710.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Trương Văn L đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 173 Bộ luật Hình sự; tội “Trộm cắp tài sản” quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”.

Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi trộm cắp là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương nhưng bị cáo coi thường pháp luật, vẫn cố ý phạm tội.

Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo Trương Văn L về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[4]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất tự tại địa phương. Do đó, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và nhằm mục đích đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung.

[5].Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội:

Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội, cụ thể:

Về nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 98/2020/HSST ngày 08/5/2020 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Hà Nội xử phạt Trương Văn L 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, về tội “Trộm cắp tài sản” (đã xóa án tích). Như vậy, bị cáo L đã có một 01 lần bị xét xử cũng về tội trộm cắp tài sản tuy đã được xoá án tích nhưng vẫn bị coi là có nhân thân xấu. Bị cáo không coi đó là bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn cố ý phạm tội.

  • -Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • -Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6]. Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]. Xử lý vật chứng:

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO CPH1912-A5S màu đen, số imeil: 865222044366254; số imei2: 2865222044366247 là tài sản của ông Vi Văn H. Đối với 01 chiếc máy mài cầm tay nhãn hiệu ANGLE GRINDER, Model: KP- 7100L; 01 chiếc máy mài cầm tay nhãn hiệu ANGLE GRINDER DCA ASM06-100; 01 chiếc máy mài cầm tay nhãn hiệu Makita, Model: 9553; 01 chiếc máy khoan bê tông nhãn hiệu GEOX, Model: 2603; 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu đen, số imeil: 3576250806695; số imei 2: 357651080669525, đều đã qua sử dụng là tài sản của ông Trương Văn T.

Ngày 30/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 8249 bằng hình thức trao trả vật chứng nêu trên cho chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ.

Đối với 01 (một) chiếc balo bằng vải màu đen, kích thước (39x45)cm Trương Văn L sử dụng để cất giấu tài sản trộm cắp, xét không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định.

(Vật chứng nêu trên có tình trạng, đặc điểm theo như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, TP Hà Nội và Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, TP .).

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là ông Vi Văn H và ông Trương Văn T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì nên hội đồng xét xử không xem xét.

[9]. Án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  2. Điều luật áp dụng và hình phạt:
    • - Các Điều: 45,46,136, 260, 268, 269, 299, 326, 327, 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
    • - Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
    • Xử phạt: Bị cáo Trương Văn L 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 25/12/2024.
  3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 (một) chiếc balo bằng vải màu đen, kích thước (39x45)cm.

    (Vật chứng nêu trên có tình trạng, đặc điểm theo như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, Hà Nội và Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, Hà Nội).

  4. Án phí: Bị cáo Trương Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo Trương Văn L có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, người bị hại;
  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông, TP. Hà Nội;
  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Hà Nội.
  • - Trại tạm giam số 2-CATP Hà Nội.
  • - Chi cục THADS quận Hà Đông, TP. Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Mạnh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2025/HSST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 75/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA.75.Trương Văn Long.25.3.25
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger