|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC Số: 75/2025/HSST Ngày: 23 - 5 - 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Xuân Đính
Bà Dương Thị Kim Nhiên
- Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Thanh Phương - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2025/HSST ngày 17 tháng 01 năm 2025; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 ; Quyết định hoãn phiên tòa ......đối với các bị cáo:
- HUỲNH MINH HẬU, sinh năm 1993 tại tỉnh Bình Dương; Tên gọi khác: Không có; Nơi cư trú: Tổ B, ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Con ông Huỳnh Minh H (đã chết) và bà Phạm Thị D; Vợ con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/8/2024 đến ngày 21/8/2024 được tại ngoại và áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay.
- NGUYỄN THỊ THU T, sinh năm 1996 tại tỉnh Bình Phước; Tên gọi khác: Không có; Nơi cư trú: Tổ B, khu phố I, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; Con ông Nguyễn Tiến H1 và bà Lê Hồng N; Chồng, con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/8/2024 đến ngày 21/8/2024 được tại ngoại và áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Diệp Kiều T1, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Tổ I, khu phố B, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước. (Có mặt)
- + Mai Văn Q, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Tổ E, khu phố G, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. (Xin vắng mặt)
- + Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Tổ E, khu phố G, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. (Xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 01/2024, thông qua người quen giới thiệu nên anh Mai Văn Q, sinh năm 1993, nơi ở hiện tại: Tổ E, khu phố G, phường M, thị xã C liên hệ với Nguyễn Thị Thu T2 vay số tiền 500.000.000 đồng. Để đảm bảo cho khoản vay, anh Q và T2 thống nhất ký Hợp đồng ủy quyền Giấy chứng nhận quyền sử dụng (CNQSDĐ) của thửa đất số 3721, tờ bản đồ số 6, địa chỉ: Khu phố G, phường M, thị xã C do anh Q và vợ là chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1994 đứng tên chủ sở hữu để làm tin. Ngày 15/01/2024, anh Q và chị L ký Hợp đồng ủy quyền giấy CNQSDĐ cho T2 tại Văn phòng C1, 2 bên cùng thỏa thuận, vay với lãi suất 3%/tháng và vay trong thời gian 05 tháng. Đồng thời, anh Q và T2 làm biên bản giao nhận tiền (đánh máy) thể hiện việc vay tiền.
Đến ngày 29/01/2024, T2 cần tiền làm ăn nên đã thỏa thuận vay của chị Diệp Kiều T1, sinh năm 1991, địa chỉ: Khu phố C, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương số tiền 1.500.000.000 đồng, với thời hạn 03 tháng sẽ trả. Để đảm bảo cho khoản vay, T2 sử dụng Giấy CNQSDĐ đứng tên anh Q và chị L cùng Hợp đồng ủy quyền đã ký làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 3721, tờ bản đồ số 6 qua cho chị T1 đứng tên để làm tin. Sau khi cầm cố đất cho chị T1 thì T2 chưa có tiền để thanh toán. Nên chị T1 tìm hiểu thì biết được thửa đất do T2 cầm cố của anh Q và chị L. Lúc này, T2 và chị T1 thỏa thuận với nhau để chị T1 làm thủ tục sang tên chuyển quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 3721, tờ bản đồ số 6; khi nào, T2 có tiền trả thì chị T1 sẽ sang tên trả lại đất cho anh Q và chị L. Ngày 04/7/2024, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã C1 xác nhận chuyển nhượng thửa đất trên do chị Diệp Kiều T1 đứng tên chủ sỡ hữu theo hồ sơ số 243625.CN.9266. Sau khi sang tên thửa đất xong thì chị T1 có thông báo cho T2 biết.
Đến ngày 08/7/2024, do cần tiền làm ăn nên chị T1 nhờ T2 tìm người cầm cố Giấy CNQSDĐ của thửa đất số 3721, tờ bản đồ số 6, thì T2 đồng ý. Lúc này, T2 nói Huỳnh Minh H2 đứng ra nhận cầm cố thửa đất, còn T2 sẽ đưa tiền cho H2 để thực hiện, H2 đồng ý. Theo thỏa thuận của T2 và H2 thì H2 đã nhận cho chị T1 vay tiền với lãi suất 3.500 đồng/1.000.000 đồng/ngày, đóng lãi từng lần theo tuần (07 ngày) thì chị T1 đồng ý cầm với số tiền 450.000.000 đồng, với thời hạn là 03 tháng sẽ trả. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 09/7/2024, T2 hẹn với H2 và chị T1 đến Văn phòng C2, địa chỉ: QL13, tổ A, khu phố I, phường H, thị xã C để chị T1 ký Hợp đồng ủy quyền thửa đất số 3721, tờ bản đồ số 6 cho H2. Tại đây, T2 chuyển khoản cho H2 số tiền 300.000.000 đồng để H2 chuyển khoản số tiền này cho chị T1 vay và số tiền còn lại H2 sẽ chuyển sau. Ngày 10/7/2024, T2 chuyển khoản tiếp cho H2 số tiền 138.975.000 đồng và H2 liền chuyển khoản cho chị T1 vay số tiền này và đồng thời H2 nói cho chị T1 biết đã cắt tiền lãi trước 07 ngày với số tiền 11.025.000 đồng, thì chị T1 đồng ý. Cùng ngày 10/7/2024, T2 nhờ H2 ký Hợp đồng chuyển nhượng Giấy CNQSDĐ để trả lại đất cho anh Q và chị L, thì H2 đồng ý. Sau đó, T2 hẹn anh Q và chị L đến Văn phòng công chứng Huỳnh Trung C để H2 ký Hợp đồng CNQSDĐ thửa đất số 3721, tờ bản đồ số 6 qua cho anh Q và chị L. Đồng thời, anh Q trả lại cho T2 số tiền 500.000.000 đồng đã vay của T2 trước đó.
Ngày 18/07/2024, chị T1 chuyển khoản trả tiền lãi cho H2 số tiền 11.025.000 đồng của 07 ngày tiếp theo và H2 đã chuyển khoản qua cho T2. Đến ngày 20/7/2024, chị T1 có đủ tiền để trả lại cho H2 để lấy sổ về thì lúc này H2 không cho chị T1 chuộc sổ mà yêu cầu chị T1 phải đóng đủ tiền lãi là 03 tháng theo thỏa thuận ban đầu thì mới cho chuộc sổ nên chị T1 vẫn để lại khoản vay này. Ngày 25/7/2024, chị T1 tiếp tục chuyển cho H2 tiền lãi 11.025.000 đồng và H2 tiếp tục chuyển tiền qua cho T2. Ngày 05/8/2024, chị T1 tiếp tục chuyển tiền lãi 11.025.000 đồng cho H2, nhưng do trước đó H2 có hỏi mượn tiền của T2 để mua phụ tùng xe nên khi nhận được tiền lãi thì H2 điện thoại thông báo cho T2 biết việc T1 đã chuyển tiền lãi rồi, giờ H2 mượn số tiền này để mua phụ tùng xe như đã hẹn trước đó. T2 đồng ý nên H2 không chuyển tiền cho T2.
Đến ngày 07/8/2024, H2 điện thoại cho T2 để chuyển trả lại số tiền H2 mượn trước đó thì T2 nói cho H2 biết việc chị T1 đòi kiện H2 về việc H2 đã cho vay lãi nặng nên H2 chưa chuyển tiền trả cho T2 mà lên mạng xã hội tìm hiểu thì biết được hành vi của mình là đã vi phạm pháp luật. Lúc này, H2 điện thoại nói cho T2 biết và cả 2 cùng bàn bạc, thống nhất để H2 chuyển trả lại tiền lãi chị T1 đã đóng cho H2 ngày 05/8/2024. Sau đó, H2 chuyển khoản trả lại tiền lãi cho chị T1 số tiền 11.025.000 đồng và đồng thời điện thoại thông báo cho chị T1 biết nhưng chị T1 không nghe máy. Đến ngày 12/08/2024, chị T1 đã đến Cơ quan điều tra trình báo toàn bộ nội dung sự việc.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Thu T2 và Huỳnh Minh H2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai phù hợp với tài liệu, chứng cứ điều tra thu thập được.
Như vậy, Nguyễn Thị Thu T2 và Huỳnh Minh H2 cho chị Diệp Kiều T1 vay số tiền 450.000.000 đồng từ ngày 09/7/2024 đến ngày 07/8/2024 với mức lãi suất 3.500 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương đương 0,35%/ngày, 10,5%/tháng, 127,75%/năm. Trong thời gian 28 ngày, tổng số tiền lãi đã thu là 44.100.000 đồng nên xác định số tiền thu lợi bất chính của T2 và H2 có được từ việc cho chị T1 vay là 37.195.890 đồng. Hiện, chị T1 chưa trả lại cho H2 số tiền gốc 450.000.000 đồng.
Quá trình điều tra vụ án, chị Diệp Kiều T1 cho rằng thửa đất số 3721, tờ bản đồ số 6, địa chỉ: Khu phố G, phường M, thị xã C là do chị T1 mua của bị can T2 với số tiền 1.500.000.000 đồng. Ngay sau khi chị T1 thế chấp, cấm cố cho H2 để vay số tiền 450.000.000 đồng thì H2 lại tiếp tục ký Hợp đồng chuyển nhượng Giấy CNQSDĐ cho anh Q và chị L. Nên chị T1 yêu cầu xử lý đối với Nguyễn Minh H3 về hành vi chiếm đoạt tài sản là thửa đất số 3721, tờ bản đồ số 6 của T1.
Về vật chứng:
Thu giữ 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Apple, loại Iphone 15 Promax, màu trắng, số imei: 359824370596629 của Nguyễn Thị Thu T2 và 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13 Promax, màu trắng, số imei: 351176562569684 của Huỳnh Minh H2. Quá trình điều tra xác định, T2 và H2 sử dụng điện thoại di động trên làm phương tiện liên lạc với nhau để thực hiện hành vi phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự:
Trong quá trình thực hiện hoạt động cho vay tiền, số tiền các bị cáo sử dụng để cho chị T1 vay tiền là phương tiện phạm tội nên cần truy thu số tiền 450.000.000 đồng mà các bị cáo sử dụng cho chị T1 vay. Do số tiền này chị T1 còn nợ các bị cáo nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- - Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là khoản tiền phát sinh từ tội phạm nên bị tịch thu sung quỹ Nhà nước, nên cần truy thu số tiền lãi mà các bị cáo đã nhận được từ chị T1 tương ứng với mức lãi suất là: 6.904.110 đồng.
- - Đối với khoản tiền lãi vượt mức lãi suất 20%/năm mà các bị cáo đã nhận được từ chị T1 là số tiền thu lợi bất chính nên các bị cáo phải trả lại cho chị T1 số tiền 37.195.890 đồng. Quá trình điều tra xác định H2 đã chuyển trả lại cho chị T1 11.025.000 đồng và T2 cất giữ số tiền còn lại là 26.170.890 đồng là tài sản hợp pháp của chị T1. Đề nghị buộc T2 giao nộp lại số tiền 26.170.890 đồng để trả lại cho chị T1.
Bản cáo trạng số 11/CT-VKSCT ngày 14/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố các bị cáo Huỳnh Minh H2 và Nguyễn Thị Thu T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, và đề nghị Hội đồng xét xử:
Xử phạt Nguyễn Thị Thu T2
Áp dụng khoản 1 Điều 201,Điều 17, 36, 50 các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm cải tạo không giam giữ.
Hình phạt bổ sung đề nghị xử phạt 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng
Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh H2
Áp dụng khoản 1 Điều 201,Điều 17, 36, 50 các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm cải tạo không giam giữ.
Hình phạt bổ sung đề nghị xử phạt 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng
Xử lý vật chứng:
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu nộp ngân sách 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Apple, loại Iphone 15 Promax, màu trắng, số imei: 359824370596629 của Nguyễn Thị Thu T2 và 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13 Promax, màu trắng, số imei: 351176562569684.
Về trách nhiệm dân sự:
Buộc chị T1 phải giao nộp số tiền 450.000.000 đồng, để tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
Buộc bị can T2 giao nộp lại số tiền 26.170.890 để trả lại cho chị Trinh
Buộc bị can T2 giao nộp lại số tiền 6.904.110 để tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
Ý kiến của bị cáo: Đồng ý về tội danh, điều luật mà đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị áp dụng với bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của mình sai trái và rất hối hận. Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Tuy nhiên, xét thấy sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không trở ngại cho việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử vụ án theo quy định tại điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tại phiên tòa của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận:
Ngày 09/7/2024 và ngày 10/7/2024, Nguyễn Thị Thu T2 có hành vi bàn bạc với Huỳnh Minh H2 để cho chị Diệp Kiều T1 vay số tiền 450.000.000 đồng với mức lãi suất 3.500 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tương đương 0,35%/ngày, 10,5%/tháng, 127,75%/năm nên gấp 6,39 lần mức lãi suất cao nhất do Bộ luật Dân sự quy định (20%/năm) và thu tổng số tiền lãi 44.100.000 đồng nên số tiền thu lợi bất chính của T2 và H2 có được từ việc cho chị T1 vay là 37.195.890 đồng. Do đó, cáo trạng số 11/CT-VKSCT ngày 14/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Huỳnh Minh H2 và Nguyễn Thị Thu T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn đúng người, đúng tội.
[3]. Về tính chất, mức độ ảnh hưởng của hành vi phạm tội: Đối với bị cáo T2 là người đưa tiền cho bị cáo H2, để bị cáo H2 cho chị T1 vay tiền với lãi suấ cao vượt quá mức mà pháp luận cho phép, Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, cụ thể là trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ đã được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình, nên phải chịu trách nhiệm hình sự.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
[4.1]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khắc phục hậu quả. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5]. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 01/2021/ NQ - HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
[5.1]. Đối với khoản tiền gốc các bị cáo dùng để cho vay được xác định là phương tiện phạm tội nên bị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước, cụ thể là số tiền: 450.000.000 đồng.
[5.2]. Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là khoản tiền phát sinh từ tội phạm nên bị truy thu để sung ngân sách Nhà nước, cụ thể truy thu của bị cáo T2 tổng số tiền: 6.904.110 đồng.
[5.3]. Đối với khoản tiền lãi vượt mức lãi suất 20%/năm mà các bị cáo đã nhận được từ chị T1 là số tiền thu lợi bất chính nên các bị cáo phải trả lại cho chị T1 số tiền 37.195.890 đồng. Do các bị cáo đã trả số tiền 11.025.000 đồng nên số tiền còn lại là 26.170.890 đồng.
Do chị T1 còn nợ lại tiền gốc vay chưa trả, nên số tiền thu lợi bất chính sẽ được trừ vào số tiền nợ gốc người vay còn nợ, và sau khi cấn trừ mà người vay vẫn còn nợ lại tiền gốc thì sẽ bị truy thu nộp vào ngân sách nhà nước thay cho nghĩa vụ của bị cáo. Nếu sau khi cấn trừ khoản tiền thu lợi bất chính vào số tiền nợ gốc người vay còn nợ mà còn dư hoặc người vay đã trả hết nợ gốc thì cần buộc bị cáo trả lại cho người vay.
Do đó cần buộc người vay tiền là chị T1 nộp vào ngân sách nhà nước số tiền: 450.000.000 đồng - 26.170.890 đồng = 423.829.110 đồng.
Như vậy, từ các mục [5.1] [5.2] [5.3] thì các bị cáo phải nộp ngân sách nhà nước số tiền: [(450.000.000 đồng gốc + 6.904.110 đồng lãi 20%) – 423.829.110 đồng tiền người vay nộp NSNN] = 33.075.000 đồng.
[5.4]. Đối với 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 3721, tờ bản đồ số 6 thuộc khu phố G, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước mang tên bà Mai Văn Q và Nguyễn Thị Thùy L và các khoản vay giữa chị T1 và bị cáo T2 đây là vụ án dân sự nên các đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết trong vụ án khác.
[6]. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Apple, loại Iphone 15 Promax, màu trắng, số imei: 359824370596629 của Nguyễn Thị Thu T2 và 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13 Promax, màu trắng, số imei: 351176562569684 của Huỳnh Minh H2. Quá trình điều tra xác định, T2 và H2 sử dụng điện thoại di động trên làm phương tiện liên lạc với nhau để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu ngân sách Nhà nước.
[7]. Các vấn đề khác:
Đối với hành vi của Nguyễn Thị Thu T2 cho anh Q vay tiền và nhận được ủy quyền thửa đất số 3721, tờ bản đồ số 6, địa chỉ: Khu phố G, phường M từ anh Q và chị L để làm tin. Sau đó, T2 tự ý ký Hợp đồng Giấy CN QSDĐ của anh Q và chị L cho chị T1 làm tin để vay tiền. Nên xác định hai Hợp đồng này đều là Hợp đồng giả cách. Ngày 04/7/2024, chị T1 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã C1 cấp Giấy CN QSDĐ thửa đất trên. Sau đó, chị T1 ký Hợp đồng ủy quyền (hợp đồng giả cách) thửa đất này cho H2 để vay tiền. Khi H2 nhận được Hợp đồng ủy quyền, T2 yêu cầu H2 ký Hợp đồng chuyển quyền sử dụng của thửa đất trên trả lại cho anh Q và chị L, để T2 lấy tiền từ anh Q. Nhận thấy, về bản chất đây không phải là giao dịch mua bán đất, mà là giao dịch dân sự vay tiền có thế chấp tài sản. Như vậy, xác định hành vi của T2 và H2 không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, mà thực hiện hành vi là nhằm để khắc phục giao dịch dân sự trước đó để trả lại đất cho anh Q và chị L. Do vậy, hành vi của Nguyễn Thị Thu T2 và Nguyễn Minh H3 không có dấu hiệu của tội phạm chiếm đoạt tài sản (thửa đất số 3721, tờ bản đồ số 6) của chị T1. Nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý.
Đối với hành vi của chị Diệp Kiều T1 đã cho Nguyễn Thị Thu T2 vay số tiền 1.500.000.000 đồng. Quá trình điều tra T2 và chị T1 có mối quan hệ quen biết nên cả 2 cùng thỏa thuận cho vay không lãi suất, nếu T2 làm ăn có lời thì cho chị T1 số tiền bao nhiêu cũng được. Mặc khác, không có tài liệu thể hiện về lãi suất cho vay giữa T2 và chị T1. Do đó, không có căn cứ để xử lý đối với chị T1 về hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, quy định tại điều 201, Bộ Luật Hình sự.
Quá trình điều tra xác định: Từ tháng 01/2024, chị T1 còn cho T2 vay tiền nhiều lần nên T2 đã ký các Hợp đồng ủy quyền và Hợp đồng chuyển nhượng 04 Giấy CN QSDĐ cho chị T1 hoặc người của chị T1 yêu cầu để làm tin (Hợp đồng giả cách) gồm: Thửa đất số 637, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: khu phố C, phường M, thị xã C; Thửa đất số 539, tờ bản đồ số 12, địa chỉ: ấp B, thị trấn C, huyện C; Thửa đất số 1139, tờ bản đồ số 3, địa chỉ: ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước và Thửa đất số 931, tờ bản đồ số 03, địa chỉ: khu phố A, phường H, thị xã C. Đồng thời, để hợp thức việc T2 vay tiền và chị T1 nhận cầm cố 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên và thửa đất số 3721, tờ bản đồ số 6 (thửa đất của ông Q và bà L) thì giữa 2 người có làm giấy viết tay “Hợp đồng vay mượn có thế chấp”, đề ngày 18/7/2024 thể hiện nội dung chị T1 nhận thế chấp và cho bị can T2 mượn tổng số tiền 3.450.000.000 đồng, hẹn đến ngày 10/9/2024, thì bị can T2 sẽ hoàn trả lại tiền và chuộc lại 05 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, xác định đây là giao dịch dân sự giữa T2 và chị T1 nên không thuộc thẩm quyền xử lý của Cơ quan điều tra.
[8]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước là có căn cứ, phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9]. Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Minh H2 và Nguyễn Thị Thu T2 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Về điều luật áp dụng và hình phạt
Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 35; 36, 50; 58, 65 (35) Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh H2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
Hình phạt bổ sung:
Xử phạt bị cáo 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng)
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
Hình phạt bổ sung:
Xử phạt bị cáo 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng)
Giao bị cáo Huỳnh Minh H2 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Thu T cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục .
- Về các vấn đề tư pháp:
- Đối với 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 3721, tờ bản đồ số 6 thuộc khu phố G, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước mang tên bà Mai Văn Q và Nguyễn Thị Thùy L và các khoản vay giữa chị T1 và bị cáo T2 đây là vụ án dân sự các đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết trong vụ án khác.
- Buộc bị cáo Huỳnh Minh H2 và Nguyễn Thị Thu T2 nộp sung quỹ Nhà nước số tiền: 33.075.000 đồng.
- Buộc chị Diệp Kiều T1 nộp sung ngân sách nhà nước số tiền: 423.829.110 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Apple, loại Iphone 15 Promax, màu trắng, số imei: 359824370596629 của Nguyễn Thị Thu T2 và 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13 Promax, màu trắng, số imei: 351176562569684 của Huỳnh Minh H2.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Huỳnh Minh H2 và Nguyễn Thị Thu T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phạm Xuân Đính – Dương Thị Kim Nhiên |
Lê Văn Ngọc |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
Bản án số 75/2025/HSST ngày 23/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 75/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử
