Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 75 /2025/HSST

Ngày 14/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Thanh.

Thẩm phán: Bà Lê Thị Tân

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa;

Bà Mai Thị Viện;

Ông Phạm Văn Huấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Tú - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 141/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 258/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2024 đối với:

Bị cáo:

Bùi Văn V - sinh năm 1995;Giới tính: Nam; Nguyên quán: xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. CCCD số:03809504174; Nơi thường trú và chỗ ở: thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Bùi Văn S; sinh năm 1971;Con bà: Trương Thị T; sinh năm 1973;Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.Vợ: Lưu Tuyết T1, sinh năm 1994; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Nhân thân: Bị xử phạt 04 năm tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 203/2024/HSST ngày 05/11/2024 của TAND Tỉnh Thanh Hóa về tội” Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo không kháng cáo, đã đi chấp hành tại trại giam T7, được trích xuất về trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt;

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Dương Xuân T2, văn phòng L1- Đoàn Luật sư tỉnh T, có đơn xin xét xử vắng mặt;

Bị hại:

  1. Anh Thiều Quang B; sinh năm1995;Địa chỉ Thôn D, xã H, T, Thanh Hóa, có mặt;
  2. Anh Hà Văn D; Sinh năm 1989;Địa chỉ: Thôn M, C, C, Thanh Hóa, có mặt;
  3. Anh Hà Văn M; Sinh năm1986;Địa chỉ: Thôn X, T, N, Thanh Hóa, có mặt;
  4. Anh Lê Văn T3; sinh năm 1988;Địa chỉ: Thôn Q, Đ, L, Thanh Hóa, có mặt;
  5. Anh Nguyễn Đình T4; sinh năm 1995;Địa chỉ Thôn S, Các S, TX N, Thanh Hóa, vắng mặt;
  6. Anh Lê Minh T5; sinh năm 1992;Thôn B, T, N, Thanh Hóa, có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn V làm trợ giảng dạy lái xe tại Trung tâm D1 và sát hạch lái xe của Trường Đại họD1 phòng cháy chữa cháy từ tháng 02/2020, có giúp việc cho giáo viên dạy lái hướng dẫn học viên thực hành lái xe. Theo quy định hoạt động của Trung tâm thì trợ giảng và giáo viên dạy lái không có chức năng thay Trung tâm tiếp nhận hồ sơ, mà chỉ được tư vấn để học viên đến trung tâm nộp hồ sơ hoặc có thể nộp thay cho học viên.

Tháng 01/2022, anh Thiều Quang B - sinh năm 1995 ở thôn D, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa thông qua chị Bùi Thị L (em gái của Bùi Văn V) liên lạc với Bùi Văn V trao đổi về việc nộp hồ sơ và được V giới thiệu là giáo viên dạy lái tại Trung tâm D1 phòng cháy chữa cháy, ngoài ra V còn mở một văn phòng tiếp nhận hồ sơ đăng ký học lái xe tại TP ., hồ sơ V nộp vào Trung tâm sẽ nhanh được thi cấp giấy phép lái xe hơn các nơi khác, cụ thể thời gian nộp đến khi thi sát hạch từ 03-04 tháng đối với hạng B2, từ 06-07 tháng đối với hạng C, nên anh B đã đưa hồ sơ kèm theo lệ phí thi đến nhờ V nộp vào Trung tâm dạy nghề đào tạo và sát hạch lái xe Trường Đại học D1 cháy chữa cháy.

Tháng 02/2022, anh Thiều Quang B trao đổi lại nội dung như V giới thiệu trên với 05 người khác gồm: (1) anh Hà Văn D, sinh năm 1989, ở thôn M, xã C, huyện C; (2) anh Hà Văn M, sinh năm 1986, ở thôn X, xã T, huyện N; (3) anh Lê Văn T3, sinh năm 1988, ở thôn Q, xã Đ, huyện L; (4) anh Nguyễn Đình T4, sinh năm 1995, ở thôn S, xã C, TX . N; (5) anh Lê Minh T5, sinh năm 1992, ở Thôn B, xã T, TX . N, sau đó cả 06 người đến gặp Bùi Văn V thỏa thuận về việc chuyển hồ sơ và chi phí học và thi cho V là4.500.000đ/01 hồ sơ với giấy phép hạng B2 và 6.500.000đ/01 hồsơ đối với giấy phép hạng C và thống nhất người nhận hồ sơ phải tự dạy lái cho học viên, V chỉ có trách nhiệm nộp hồsơ và lệ phí đăng ký học nghề lái xe. Mỗi trường hợp đăng ký học nghề lái xe chỉ cần chuyển tiền và chụp ảnh chân dung, CMND/CCCD gửi qua Z cho V để V làm hồ sơ nộp.

Thời gian đầu Bùi Văn V nhận 27 hồ sơ kèm theo lệ phí thi từ các cá nhân trên, V đã thực hiện theo đúng thỏa thuận, trong đó có 23 trường hợp học hạng B2 và C, V nộp hồ sơ vào Trung tâm dạy nghề đào tạo và sát hạch lái xe Trường Đại học D1; 04 trường hợp hạng A2 Vương nộp hồ sơ đến Trường T8, sau đó tất cả 27 trường hợp này đã được học và thi cấp giấy phép theo quy định. Tuy nhiên sau đó do cần tiền chi tiêu và trả nợ, nên Bùi Văn V đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Lợi dụng việc 06 cá nhân trên tin tưởng V thực hiện theo đúng thỏa thuận trước đó, nên các anh Thiều Quang B, Hà Văn D, Hà Văn M, Lê Văn T3, Nguyễn Đình T4 và Lê Minh T5 tiếp tục chuyển hồ sơ và tiền cho V. Sau mỗi lần nhận hồ sơ V đều nói dối là sẽ nộp hồ sơ chờ thời gian học và thi. Với thủ đoạn trên, Bùi Văn V đã nhận nhiều lần từ 06 cá nhân trên với tổng số 143 hồ sơ, kèm theo tổng số tiền là 837.350.000đ, tuy nhiên V không nộp hồ sơ vào Trung tâm mà sử dụng toàn bộ số tiền trên vào việc chi tiêu cá nhân và trả nợ hết, cụ thể như sau:

  1. Anh Thiều Quang B chuyển tiền cho V nhiều lần với tổng số tiền là 248.900.000 đồng dểđăng ký học nghề cho 43 trường hợp. Trong đó, V đã nộp hồ sơ học nghề lái xe cho 01 trường hợp hạng B2 và 03 trường hợp hạng C, theo thỏa thuận giữa V và anh B thì hết chi phí 24.200.000đ. Như vậy, V không nộp 39 hồ sơ với tổng số tiền V đã chiếm đoạt của anh B là 224.700.000 đồng (BL 59 -> 92; 293 -> 302).
  2. Anh Hà Văn D chuyển tiền cho V nhiều lần với tổng số tiền là 172.600.000 đồng để đăng ký học nghềcho 35 trường hợp. V đã nộp hồ sơ học nghề lái xe cho 07 trường hợp hạng B2 và 04 trường hợp hạng A2, theo thỏa thuận giữa V và anh D thì hết chi phí 43.500.000đ. Như vậy, V không nộp 24 hồ sơ, tổng số tiền V chiếm đoạt của anh D là 128.950.000đ (BL 207 -> 224).
  3. Anh Hà Văn M chuyển tiền cho V nhiều lần với tổng số tiền là 156.900.000đ để đăng ký học nghềcho 23 trường hợp. V đã nộp hồ sơ học nghề lái xe cho 01 trường hợp hạng B2 và 04 trường hợp hạng C, theo thỏa thuận giữa V và anh M thì hết chi phí 30.500.000đ. Như vậy, không nộp 18 hồ sơ, số tiền V chiếm đoạt của anh M 126.400.000 đồng (BL 159 -> 206).
  4. Anh Lê Văn T3 chuyển tiền cho V nhiều lần với tổng số tiền là 152.800.000đ đểđăng ký học nghềcho 28 trường hợp. V đã nộp hồsơ học nghề lái xe cho 07 trường hợp hạng B2, theo thỏa thuận giữa V và anh T3 thì hết chi phí 31.500.000đ. Như vậy, V đã không nộp 21 hồ sơ, số tiền V chiếm đoạt của anh T3 là 121.300.000đồng (BL 369 -> 377).
  5. Anh Nguyễn Đình T4 chuyển tiền cho V nhiều lần với tổng số tiền là 115.200.000đ đểđăng ký học nghề cho 19 trường hợp. V không nộp hồ sơ nào, số tiền V chiếm đoạt của anh T4 là 115.200.000 đồng (BL 255 -> 270).
  1. Anh Lê Minh T5 chuyển tiền cho V nhiều lần với tổng số tiền là 120.800.000đ đểđăng ký học nghề cho 22 trường hợp. Vương không nộp hồ sơ nào, không học viên nào được đi học và đi thi, số tiền V chiếm đoạt của anh T5 là 120.800.000 đồng (BL 116 -> 158).

Cùng thời gian này, V được Sở giao thông vận tải Thành phố H cấp Giấy chứng nhận hoàn thành khóa tập huấn giáo viên dạy lái thực hành lái xe ôtô. Sau khi được cấp giấy chứng nhận, V nghỉ việc tại Trung tâm D1 phòng cháy chữa cháy.

Do học viên nộp tiền và hồ sơ đã lâu mà không thấy V gọi đi thi sát hạch nên các anh Bùi Quang B1, Hà Văn D, Hà Văn M, Lê Văn T3, Nguyễn Đình T4 và Lê Minh T5 lần gọi điện và đòi lại tiền nhưng V khất lần không trả. Ngày 14/10/2022, V viết giấy cam kết trả nợ mục đích để không bị thúc giục đòi tiền. Sau đó V đã thay đổi số điện thoại, cắt liên lạc nên các cá nhân trên đã làm đơn tố cáo đến Cơ quan điều tra Công an tỉnh T.

* Về bồi thường dân sự:

Quá trình điều tra, Bùi Văn V đã tác động đến gia đình tự nguyện nộp số tiền 100.000.000 đồng để bồi thường thiệt hại cho anh Bùi Quang B1 số tiền 25.000.000 đồng, Hà Văn D, Hà Văn M, Lê Văn T3, Nguyễn Đình T4 và Lê Minh T5 mỗi anh 15.000.000 đồng. Anh Lê Minh T5 đã nhận 15.000.000 đồng, các cá nhân còn lại không nhận với lý do số tiền bồi thường quá ít.

Cơ quan điều tra đã trả trả lại cho anh Lê Minh T5 số tiền 15.000.000đ, số tiền còn lại 85.000.000 đồng chuyển Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa chờ xử lý (BL 416 -> 420).

Quá trình điều tra, Bùi Văn V đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra.

Đối với số tiền mà các anh Bùi Quang B1, Hà Văn D, Hà Văn M, Lê Văn T3, Nguyễn Đình T4 và Lê Minh T5 đã nhận của 143 học viên sau đó chuyển cho V, các cá nhân trên đã tự bỏ tiền để trả lại cho các học viên hoặc nộp hồ sơ đến cơ sở đào tạo lái xe khác để học viên được đi học. Toàn bộ số học viên này không có đề nghị gì đối với các anh Bùi Quang B1, Hà Văn D, Hà Văn M, Lê Văn T3, Nguyễn Đình T4 và Lê Minh T5.

Đối với Trung tâm D1 Trường đại học D1 cháy chữa cháy, quá trình điều tra xác định Trung tâm không biết việc V tiếp nhận hồ sơ, tiền của học viên sau đó chiếm đoạt. Cơ quan CSĐT đã có kiến nghị đề nghị Trung tâm có biện pháp nâng cao biện pháp quản lý, giám sát trong việc tiếp nhận hồ sơ đăng ký dự thi của học viên.

* Bản cáo trạng số:

52/CT-VKS-P2 ngày 06 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã truy tố bị cáo Bùi Văn V tội “ Lừa đảo tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự

*Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung Cáo trạng, đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản Điều 52, Điều 38, Điều 56 BLHS: xử phạt Bùi Văn V từ 13 đến 13 năm 06 tháng tù, tổng hợp hình phạt 04 năm tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 203/2024/HSST ngày 05/11/2024 của TAND Tỉnh Thanh Hóa về tội” Tàng trữ trái phép chất ma túy” buộc bị cáo phải chấp hành 17 năm đến 17 năm 06 tháng tù;

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã nộp để khắc phục được 100 triệu đồng, trong đó anh T5 đã nhận 15 triệu, số còn lại giao cho anh B1 25 triệu; anh D, anh M, anh T3, anh T4 mỗi anh 15 triệu còn lại buộc bị cáo phải trả lại cho: anh B1: 199.700.000đ ;anh D: 113.950.000đ; anh M 111.400.000đ; anh T3 106.300.000; anh T4 100.200.000đ; anh T5 105.800.000đ;

- Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 về mức thu án phí, lệ phí buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 33.494.000đ án phí dân sự sơ thẩm;

+ Người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thấp hơn mức đề nghị của đại diện VKS đưa ra;

+ Các bị hại đề nghị xử nghiêm theo quy định của pháp luật;

+ Bị cáo xin lỗi các bị hại, xin được giảm nhẹ hình phạt;

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo; Bị hại, người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi ích cho bị hại không khiếu nại gì về hành vi, về quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Trong thời gian là trợ giảng dạy lái xe tại Trung tâm D1 và sát hạch lái xe của Trường Đại họD1 phòng cháy chữa cháy, bị cáo đã nhận của các anh Bùi Quang B1, Hà Văn D, Hà Văn M, Lê Văn T3, Nguyễn Đình T4 và anh Lê Minh T5 tổng 27 hồ sơ ban đầu cho học viên và số này đã được tham gia học, thi cấp giấy phép lái xe. Bị cáo nhận thấy có nhiều người có nhu cầu nhờ nộp hồ sơ và tiền để học lái xe thì bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền từ việc nhận hồ sơ và tiền của người đăng ký học và thi lấy giấy phép. Sau khi làm được 27 bộ hồ sơ trên thì các anh Bùi Quang B1, Hà Văn D, Hà Văn M, Lê Văn T3, Nguyễn Đình T4 và anh Lê Minh T5 tin tưởng bị cáo nên tiếp tục nhờ nộp tiền và hồ sơ với 143 hồ sơ, tổng số tiền là

837.350.000 đồng (trong đó: anh Thiều Quang B là 39 hồ sơ, với số tiền là 224.700.000đ; anh Hà Văn D là 24 hồ sơ, với số tiền là 128.950.000đ; anh Hà Văn M là 18 hồ sơ, với số tiền là 126.400.000đ; anh Lê Văn T3 là 21 hồ sơ, với số tiền là 121.300.000đ; anh Nguyễn Đình T4 là 19 hồ sơ, với số tiền là 115.200.000đ; anh Lê Minh T5 là 22 hồ sơ, với số tiền là 120.800.000đ), sau mỗi lần nhận hồ sơ thì Bùi Văn V đã nói dối hồ sơ được nộp và chờ ngày học nhưng Bùi Văn V đã không nộp hồ sơ vào bất cứ Trung tâm dạy lái và thi sát hạch nào mà chiếm đoạt toàn bộ số tiền trên sử dụng vào việc chi tiêu và trả nợ.

Bùi Văn V chỉ làm trợ giảng cho Trung tâm dạy nghề lái xe, giúp việc cho giáo viên dạy lái hướng dẫn giáo viên thực hành lái xe, không có chức năng thay trung tâm tiếp nhận hồ sơ mà chỉ được tư vấn để học viên đến nộp hồ sơ hoặc có thể nộp thay cho học viên. Bị cáo đã nộp thay được 27 bộ và biết rõ việc nộp thay này là tự mình cầm tiền nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt, bằng việc sẽ nộp hộ cho học viên nhưng thực chất sau khi nhận được 143 bộ hồ sơ với số tiền 837.350.000₫ bị cáo đã không nộp cho trung tâm mà chiếm đoạt hết.

Hành vi của bị cáo đủ cơ sở để HĐXX kết luận: Bị cáo đã phạm tội”Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a, khoản 4 Điều 174 BLHS với số tiền chiếm đoạt là 837.350.000đ và cáo trạng của VKSND Tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật;

[3] Xét tính chất của vụ án: Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân – một trong những quyền cơ bản được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã là lợi dụng sự tin tưởng của người dân vào dịch vụ thi bằng lái xe – một nhu cầu thiết yếu và chính đáng – để thực hiện hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản. Việc bị cáo chiếm đoạt tiền của nhiều người đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của các bị hại, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản và trật tự an toàn xã hội, đồng thời, nó còn làm mất niềm tin của nhân dân vào các dịch vụ hành chính, dịch vụ đào tạo có liên quan đến nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự, uy tín của các tổ chức liên quan.

Do đó cần xử phạt nghiêm bị cáo để răn đe, phòng ngừa và làm gương trong xã hội;

[4] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi phạm tội, bị cáo đã tác động đến gia đình để bồi thường cho các bị hại tổng số tiền 100.000.000 đồng. Nguyện vọng của bị cáo là bồi thường cho anh B 25.000.000 đồng; các anh Hà Văn D, Hà Văn M, Lê Văn T3, Nguyễn Đình T4 và Lê Minh T5 mỗi anh 15.000.000 đồng. Nhưng có mỗi anh Lê Minh T5 đã nhận 15.000.000 đồng, những người khác không nhận cho rằng việc bồi thường là ít. Nên số còn lại 85.000.000đ triệu đồng đang được tạm giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

HĐXX thấy rằng tại phiên tòa bị cáo cũng nhờ đến gia đình xem xét tiếp phần tiền còn lại của các bị hại nhưng gia đình bị cáo nêu rõ khó khăn và nếu có điều kiện sẽ khắc phục ở giai đoạn thi hành án hoặc khi bị cáo thi hành án tù về. Nên số tiền 85.000.000đ sẽ giao trả cho các bị hại và bị cáo phải có nghĩa vụ trả nốt số tiền còn lại cho các bị hại, cụ thể là:

  • Anh Bùi Quang B1 được nhận số tiền 25.000.000đ còn (224.700.000đ-25.000.000đ) = 199.700.000đ;
  • Anh Hà Văn D được nhận 15.000.000đ còn (128.950.000đ-15.000.000đ) = 113.950.000đ;
  • Anh Hà Văn M được nhận 15.000.000đ còn (126.400.000đ-15.000.000đ) = 111.400.000đ;
  • Anh Lê Văn T3 được nhận 15.000.000đ còn (121.300.000đ-15.000.000đ) = 106.300.000;
  • Anh Nguyễn Đình T4 được nhận 15.000.000đ còn(115.200.000đ -15.000.000đ) = 100.200.000đ;
  • Anh Lê Minh T5 đã được nhận 15.000.000đ còn (120.800.000đ - 15.000.000đ) = 105.800.000đ;

[5] Xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ: Bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo, đã trả lại 1 phần tiền khắc phục hậu quả, ông bà nội ngoại được tặng thưởng huân huy chương kháng chiến, bị cáo còn là người dân tộc Mường nên nhận thức có hạn chế nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, điểm b khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS;

Bị cáo chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 2 Điều 52 BLHS về “phạm tội nhiều lần”.

Ngoài ra, bị cáo hiện đang chấp hành bản án khác nên cần áp dụng Điều 56 của BLHS để tổng hợp hình phạt cho bị cáo;

[6] Các tình tiết khác trong vụ án: Đối với số tiền mà các anh Bùi Quang B1, Hà Văn D, Hà Văn M, Lê Văn T3, Nguyễn Đình T4 và Lê Minh T5 đã nhận của 143 học viên sau đó chuyển cho V, các cá nhân trên đã tự bỏ tiền để trả lại cho các học viên hoặc nộp hồ sơ đến cơ sở đào tạo lái xe khác để học viên được đi học. Toàn bộ số học viên này không có đề nghị gì đối với các anh Bùi Quang B1, Hà Văn D, Hà Văn M, Lê Văn T3, Nguyễn Đình T4 và Lê Minh T5.

Đối với Trung tâm D1 Trường đại học D1 cháy chữa cháy, quá trình điều tra xác định Trung tâm không biết việc V tiếp nhận hồ sơ, tiền của học viên sau đó chiếm đoạt.

Cơ quan CSĐT đã có kiến nghị đề nghị Trung tâm có biện pháp nâng cao biện pháp quản lý, giám sát trong việc tiếp nhận hồ sơ đăng ký dự thi của học viên.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Số tiền 85.000.000đ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa theo ủy nhiệm chi lập ngày 19/11/2024, đơn vị trả tiền là Công an tỉnh T được trả cho các anh: Thiều Quang B 25.000.000; anh Hà Văn D, anh Hà Văn M, anh Lê Văn T3, anh Nguyễn Đình T4 mỗi anh 15.000.000đ.

[8] Về án phí: căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 21 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Bùi Văn V phải chịu án phí HSST là 200.000đ và án phí dân sự có giá ngạch đối với số tiền 737.350.000 đ chưa thi hành cho các bị hại: 20.000.000đ + (4% x 337.350.000₫) = 33.494.000đ;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 174 BLHS; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 56 BLHS: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn V phạm tội” Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
  2. Xử phạt bị cáo Bùi Văn V: 13 (mười ba) năm tù. Tổng hợp hình phạt 04(bốn) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 203/2024/HS-ST ngày 05 tháng 11 năm 2024 của TAND Tỉnh Thanh Hóa, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là: 17 (mười bảy) năm tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 03 tháng 05 năm 2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo phải trả lại cho anh B: 199.700.00đ; anh D: 113.950.000₫; anh M 111.400.000đ; anh T3 106.300.000; anh T4 100.200.000đ; anh T5 105.800.000₫;
  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 147 BLHS; Điều 106 BLTTHS:Các bị hại được nhận lại tiền tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa theo ủy nhiệm chi lập ngày 19/11/2024, đơn vị trả tiền là Công an tỉnh T cụ thể: Thiều Quang Bắc 25.000.000; anh Hà Văn D, anh Hà Văn M, anh Lê Văn T3, anh Nguyễn Đình T4 mỗi anh 15.000.000đ.
  5. Về án phí: Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 21; điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Bùi Văn V phải chịu án phí HSST là 200.000đ và án phí dân sự đối với số tiền còn lại 737.350.000₫ chưa thi hành cho các bị hại là 33.494.000đ;
  6. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 BLTTHS: Bị cáo Bùi Văn V và các bị hại Bùi Quang B1, Hà Văn D, Hà Văn M, Lê Văn T3 và Lê Minh T5 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án; Bị hại anh Nguyễn Đình T4 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án hoặc kể từ ngày bản án được giao, niêm yết theo quy định của pháp luật;

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại HN;
  • - VKSND, Cục THADS tỉnh Thanh Hoá;
  • - CQCSĐT CA tỉnh Thanh Hoá;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo, Luật sư bào chữa; Bị hại,
  • - Lưu HSVA; Lưu tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Phương Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2025/HSST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 75/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger