Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG


Bản án số: 75/2025/HS-ST

Ngày: 28-5-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hạnh.

Bà Dương Thị Tố Như.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tài - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Ka Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 63/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Duy K, tên gọi khác: Không, sinh năm: 1985 tại Lâm Đồng; hộ khẩu thường trú: Số B T, xã B, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Hẻm B Hà Giang, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc K1, sinh năm: 1964, hiện đang trú tại xã L, thành phố B và con bà Nguyễn Thị Kim Á, sinh năm 1966, hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam T; vợ: Phạm Thị H, sinh năm: 1994 (đã ly hôn); con: Có 01 con là Nguyễn Phạm Gia H1, sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt và tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L - Phân trại Bảo Lộc từ ngày 10/02/2025 cho đến nay. Có mặt.

Bị hại: Bà Đỗ Thị Kim Á1, sinh năm: 1983; nơi cư trú: Số C N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ ngày 28/9/2021, Nguyễn Duy K điều khiển xe mô tô biển số 55Y3-3026 đến cửa hàng điện thoại “Bảo Huy” ở số C N, phường L, thành phố B do chị Đỗ Thị Kim Á1 làm chủ để mua sim điện thoại. Chị Á1 bán cho K 01 chiếc sim điện thoại số 0865.296.xxx với giá 100.000 đồng. Trong lúc chị Á1 làm thủ tục đăng ký sim cho K thì K mở tủ trưng bày điện thoại của chị Á1 lấy ra 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu vàng (G) để xem. Khương hỏi chị Á1 chiếc điện thoại này giá bao nhiêu thì chị Á1 nói 4.800.000 đồng. Sau khi trả lời xong thì chị Á1 tiếp tục làm sim cho K và tiếp khách đến mua hàng. Thấy chị Á1 không để ý nên K đã lấy chiếc điện thoại nói trên cho vào trong ống tay áo khoác bên trái đang mặc trên người rồi trả tiền sim cho chị Á1 và đi về phòng trọ. K lấy chiếc điện thoại vừa trộm cắp ra ấn số 000000 để mở khóa màn hình, thấy I không khóa. Sau đó, K tải game về chơi thì thấy chị Á1 gọi điện thoại nhưng K không nghe máy. Đến khoảng 17 giờ ngày 29/9/2021, K mang chiếc điện thoại nói trên đến cửa hàng điện thoại “Tiến Đạt Alo” ở số A L, phường A, thành phố B bán cho chủ cửa hàng là anh Võ Nguyên Đ được 3.400.000 đồng. Số tiền trên K đã dùng 2.000.000 đồng để trả nợ, mua đồ ăn hết 100.000 đồng. Còn 1.300.000 đồng sau khi bị phát hiện K đã giao nộp lại cho Cơ quan điều tra. Đối với chiếc điện thoại Iphone 8, sau khi mua lại từ K, anh Đ đã bán cho một người phụ nữ không xác định được nhân thân lai lịch vào chiều ngày 30/9/2021 nên không thu hồi được.

Sau khi bị khởi tố K bỏ trốn khỏi địa phương nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã đồng thời tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, tạm đình chỉ điều tra bị can đối với K. Đến ngày 10/02/2025 K bị Công an xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre bắt theo quyết định truy nã số 01 ngày 30/3/2022 của Cơ quan điều tra Công an thành phố B (nay là Công an tỉnh L).

Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 162 ngày 29/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản thành phố B kết luận: giá trị tại thời điểm ngày 28/9/2021 của một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, màu gold, đã qua sử dụng là 5.000.000 đồng.

Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 xe mô tô hiệu Joyride màu đỏ đen, BS: 55Y3-3026; số tiền 1.300.000 đồng; 01 giấy CMND mang tên Nguyễn Duy K; 01 USB nhãn hiệu Kingston màu đỏ dung lượng 08GB (kèm theo hồ sơ vụ án).

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra vụ việc bị cáo Nguyễn Duy K đã bồi thường cho bị hại là chị Đỗ Thị Kim Á1 số tiền 4.800.000 đồng, chị Á1 sau khi nhận được số tiền trên không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự và tự nguyện viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho K.

Cáo trạng số: 75/CT-VKSBL ngày 21/4/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố Nguyễn Duy K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, bị cáo đề nghị sung công số tiền 1.300.000₫ có được từ việc bán điện thoại trộm cắp được.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K từ 06 đến 09 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Hiện bị hại không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xét đến.

Về vật chứng:

Giao lại cho Cơ quan điều tra - Công an tỉnh L 01 xe mô tô hiệu Joyride màu đỏ đen, biển số 55Y3-3026 để tiếp tục xác minh, giải quyết theo thẩm quyền.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.300.000₫ mà bị cáo giao nộp.

Trả lại cho bị cáo 01 giấy CMND mang tên Nguyễn Duy K.

Lưu vào hồ sơ vụ án 01 USB nhãn hiệu Kingston màu đỏ dung lượng 08GB.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 09 giờ ngày 28/9/2021 Nguyễn Duy K điều khiển xe mô tô biển số 55Y3-3026 đến cửa hàng điện thoại “Bảo Huy” ở số C N, phường L, thành phố B do chị Đỗ Thị Kim Á1 làm chủ để mua sim điện thoại. Chị Á1 bán cho K 01 chiếc sim điện thoại số 0865.296.xxx với giá 100.000 đồng. Trong lúc chị Á1 làm thủ tục đăng ký sim cho K thì K mở tủ trưng bày điện thoại của chị Á1 lấy ra 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu vàng (G) để xem. Thấy chị Á1 không để ý nên K đã lấy chiếc điện thoại nói trên cho vào trong ống tay áo khoác bên trái đang mặc trên người rồi trả tiền sim cho chị Á1 và đi về phòng trọ. Đến khoảng 17 giờ ngày 29/9/2021, K mang chiếc điện thoại nói trên đến cửa hàng điện thoại “Tiến Đạt Alo” ở số A L, phường A, thành phố B bán cho chủ cửa hàng là anh Võ Nguyên Đ được số tiền 3.400.000đ. Số tiền trên K đã dùng 2.000.000đ để trả nợ, mua đồ ăn hết 100.000đ. Còn 1.300.000₫ sau khi bị phát hiện K đã giao nộp lại cho Cơ quan điều tra.

Theo Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 162 ngày 29/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản thành phố B kết luận: giá trị tại thời điểm ngày 28/9/2021 của một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, màu gold, đã qua sử dụng là 5.000.000₫.

Trong khi bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện, mục đích bán lấy tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân.

Vì vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Duy K đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

  • - Nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
  • - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt chính: Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, bị cáo có sức khỏe nhưng lười lao động, muốn thỏa mãn nhu cầu cho bản thân nên đi trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Mặt khác, sau khi bị khởi tố thì bị cáo đã bỏ trốn, bị bắt theo quyết định truy nã nên cần phải xử phạt tù có thời hạn, nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện tu dưỡng, rèn luyện thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[7] Về vật chứng:

  • - Đối với 01 xe mô tô hiệu Joyride màu đỏ đen, biển số 55Y3-3026 mà bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội. Hiện chưa xác minh được chủ sở hữu hợp pháp nên cần giao lại cho Cơ quan điều tra Công an tỉnh L để tiếp tục xác minh, giải quyết theo thẩm quyền.
  • - Đối với số tiền 1.300.000₫ mà bị cáo đã giao nộp cho Cơ quan điều tra. Xét đây là tiền có được từ việc bán chiếc điện thoại đã trộm cắp, bị cáo cũng đề nghị sung ngân sách nên cần sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với 01 giấy CMND mang tên Nguyễn Duy K. Xét đây là giấy tờ cá nhân hợp pháp của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với 01 USB nhãn hiệu Kingston màu đỏ dung lượng 08GB ghi lại diễn biến vụ việc trộm cắp. Cơ quan điều tra đã lưu vào hồ sơ vụ án nên cần tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra vụ việc bị cáo Nguyễn Duy K đã bồi thường cho bị hại là chị Đỗ Thị Kim Á1 số tiền 4.800.000đ. Hiện nay chị Á1 không có yêu cầu bồi thường thêm về dân sự nên không xem xét đến.

[9] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/02/2025.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Giao lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh L 01 (một) xe mô tô hiệu Joyride màu đỏ đen, BS: 55Y3-3026, số khung: RLGCA11DD AD002578, số máy: VMVWAD D002578, tình trạng đã qua sử dụng để tiếp tục xác minh, giải quyết theo thẩm quyền. (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc).
    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.300.000đ (Theo lệnh chuyển tiền ngày 07/5/2025 đơn vị trả tiền là Cơ quan Cảnh sát điều tra C tỉnh Lâm Đồng).
    • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy K 01 (một) giấy CMND mang tên Nguyễn Duy K (Đã trả tại phiên tòa).
  3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Duy K phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND TP. Bảo Lộc;
  • - Công an tỉnh Lâm Đồng;
  • - Chi cục THA dân sự TP. Bảo Lộc;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Ninh Khắc Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2025/HS-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 75/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy K phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger