Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2025/HS-ST

Ngày 21 tháng 11 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Trọng Thực

Ông Nguyễn Văn Kháng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Quân – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2025 tại Phòng xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hưng Yên là điểm cầu trung tâm và phòng xét xử trực tuyến Trại tạm giam số 01 - Công an tỉnh H là điểm cầu thành phần, Tòa án nhân dân khu vực 4 – Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2025/QĐXX-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:

Quàng Văn D, sinh năm 2003;

Nơi sinh và nơi cư trú: Bản K, xã C, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quàng Văn H (đã chết) và bà Cầm Thị H1; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Chưa có;

Bị cáo bị bắt từ ngày 12/8/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh H.

Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Lò Thị H2, sinh năm 1994;

Nơi cư trú: Bản L, xã T, tỉnh Điện Biên;

Nơi ở hiện nay: Thôn H, xã N, tỉnh Hưng Yên.

Vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Trần Văn X, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Khu phố L, phường Q, tỉnh Bắc Ninh.

Vắng mặt.

Người làm chứng:

Anh Lò Văn L, sinh năm 2004;

Địa chỉ: Bản C, xã N, tỉnh Sơn La.

Anh Thào A D1, sinh năm 2005;

Địa chỉ: Bản N, xã M, tỉnh Sơn La.

Anh Đỗ Xuân S, sinh năm 1980;

Địa chỉ: Thôn H, xã N, tỉnh Hưng Yên.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quàng Văn D, sinh năm 2003 bản Khoong Tở, xã C, tỉnh Sơn La là đối tượng không có nghề nghiệp, không có chỗ ở cố định. Ngày 12/02/2025 D đến và ở nhờ tại phòng trọ của bạn là anh Lò Văn L, sinh năm 2004, hộ khẩu thường trú ở Bản C, xã N, tỉnh Sơn La hiện (đang thuê phòng trọ tại gia đình anh anh Đỗ Xuân S, sinh năm 1980 tại thôn H, xã N, tỉnh Hưng Yên). Ngày 15/02/2025 chị Lò Thị H2, sinh năm 1994 cùng chồng là anh Lò Văn T, sinh năm 1988 đều có có hộ khẩu thường trú tại Bản L, xã T, tỉnh Điện Biên (ở cùng khu trọ với anh L) có nhờ anh L sang phòng của chị H2 để trông phòng trọ hộ, anh L đồng ý và anh L rủ D sang ngủ cùng. Quá trình ở nhờ anh L, D đã biết vợ chồng chị H2 có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, biển số 27AN-032.23 thường xuyên để ở lán xe của khu trọ. Do không có tiền tiêu sài cá nhân nên D nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô nêu trên của vợ chồng chị H2 mang đi bán lấy tiền.

Khoảng 06 giờ ngày 16/02/2025, thấy anh L đang ngủ say trong phòng chị H2, D dậy lục lọi đồ đạc trong chiếc vali quần áo chị H2 để dưới gầm giường thì tìm thấy 01 chiếc chìa khoá của xe mô tô biển số 27AN-032.23. D lấy chìa khóa mang ra vị trí lán để xe cắm vào ổ khóa điện xe mô tô trên thì thấy có tiếng chuông kêu “Tít, tít”. D biết đúng chìa khoá của xe mô tô biển số 27AN-032.23 nên đã cất chìa khóa phụ vào túi quần rồi đi bộ ra ngoài chơi đợi mọi người trong khu trọ và anh L đi làm hết mới quay về phòng trọ. Khoảng 07 giờ cùng ngày, D về khu vực phòng trọ, quan sát không có ai nên đã dùng chìa khoá cất giấu trong người mở khoá xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, biển số 27AN-032.23 của chị H2 rồi điều khiển xe bỏ đi. Trên đường đi D dừng lại mở cốp xe kiểm tra thì thấy bên trong có 01 bản phô tô đăng ký xe mô tô trên, D lại cất vào cốp xe và đi tiếp. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, D đi đến cửa hiệu cầm đồ 98 Khu M, phường P, tỉnh Bắc Ninh thì gặp anh Thào A D1, sinh năm 2005 ở bản N, xã M, tỉnh Sơn La (là nhân viên đang trông cửa hiệu). D bảo anh D1 là muốn cầm cố xe, anh D1 hỏi D xe của ai, D trả lời: "xe của chị gái cho nhưng chưa sang tên đổi chủ" rồi đưa cho anh D1 xem giấy đăng ký xe bản phô tô có thông tin chủ xe là chị Lò Thị H2. Anh D1 kiểm tra thì thấy đăng ký xe trùng khớp biển số nên hỏi D muốn cầm cố bao nhiêu tiền, D bảo muốn cầm với số tiền 13.000.000 đồng, anh D1 trả lời: “xe này chỉ cầm được 12.000.000 đồng”, D đồng ý. Anh D1 gọi điện cho anh Trần Văn X, sinh năm 1989 ở Khu phố L, phường Q, tỉnh Bắc Ninh (là chủ hiệu cầm đồ) thông báo có khách muốn cầm cố xe Honda Vision, màu xám đen, biển số 27AN-032.23, có giấy tờ xe, đời 2023 với giá 12.000.000 đồng, anh X đồng ý và bảo anh D1 làm hợp đồng với khách. Anh D1 đưa cho D 01 bản Hợp đồng cầm đồ của cửa hiệu đã soạn sẵn rồi bảo D điền thông tin của D và tài sản cầm cố vào đó đồng thời yêu cầu D cung cấp Căn cước công dân thì D làm theo. Anh D1 chụp ảnh lại hình ảnh Căn cước công dân của D để lưu vào hồ sơ cầm đồ, viết xong D ký nhận vào bản Hợp đồng cầm đồ rồi giao cho anh D1 giữ, anh D1 đưa trả D số tiền 12.000.000 đồng, còn D bàn giao xe mô tô cùng 01 bản giấy đăng ký xe phô tô cho anh D1 rồi bỏ trốn và tiêu sài cá nhân hết số tiền trên.

Sau khi phát hiện bị mất xe, ngày 22/02/2025 chị Lò Thị H2 có đơn trình báo gửi Cơ quan CSĐT- Công an xã L, huyện V sau đó vụ án được chuyển đến Công an huyện V đề nghị giải quyết theo quy định. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện V tiến hành thu giữ hình ảnh camera an ninh tại khu vực lán xe trong khu phòng trọ của gia đình ông Đỗ Xuân S.

Quá trình điều tra anh Trần Văn X tự nguyện giao nộp 01 chiếc xe mô tô biển số 27AN-032.23, 01 Hợp đồng cầm đồ lập ngày 16/02/2025, 01 bản phô tô đăng ký xe mô tô biển số 27AN-032.23, 02 thẻ Căn cước công dân in màu mang tên Quang Văn D2 để phục vụ điều tra vụ án.

Ngày 28/02/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ra Yêu cầu định giá tài sản đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, biển số 27AN-032.23 mà D2 đã chiếm đoạt. Tại bản kết luận định giá tài sản số 17/HĐĐG ngày 25/03/2025 của Hội đồng định giá huyện V, kết luận: “Tại thời điểm ngày 16/02/2025, chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, BKS: 27AN-032.23, số khung: RLHJK0357RY21 0423, số máy: JK03E3544784 có trị giá là 36.000.000 đồng”.

Ngày 10/6/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H ra Quyết định trưng cầu giám định đối với các File video thu giữ liên quan đến vụ án. Tại Bản kết luận giám định số 482/KL-KTHS ngày 20/06/2025 của phòng K Công an tỉnh H, kết luận: “Không phát hiện thấy có dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các File video gửi giám định”.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội D2 bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 08/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H ra Quyết định truy nã đối với D2. Đến ngày 12/8/2025, D2 bị bắt theo Quyết định truy nã và Cơ quan điều tra Công an tỉnh H đã ra quyết định phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra bị can đối với D2 về tội Trộm cắp tài sản để điều tra theo quy định.

Quá trình điều tra xác định: Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, biển số 27AN-032.23 cùng giấy tờ liên quan mà cơ quan điều tra đã thu giữ là tài sản hợp pháp của chị Lò Thị H2, cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu không nằm trong dữ liệu xe vật chứng nên ngày 22/6/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã trả lại chiếc xe mô tô cùng giấy tờ cho chị H2. Chị H2 đã nhận lại xe xác định không bị hư hỏng gì nên tự nguyện không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Đối anh Trần Văn X, anh Thào A D1 là người cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, biển số 27AN-032.23 của D2. Quá trình điều tra xác định khi cầm cố chiếc xe mô tô trên anh X và anh D1 không biết chiếc xe là tài sản do D2 phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với anh X và anh D1. Đối với số tiền 12.000.000 đồng anh X bỏ ra cầm cố xe anh X yêu cầu D2 phải bồi thường số tiền trên.

Quàng Văn D thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Bản cáo trạng số 10/CT-VKSKV4, ngày 23/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Hưng Yên, truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà; Bị cáo thành khẩn khai báo như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, bị cáo rất ăn năn hối cải, bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Hưng Yên giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Quàng Văn D từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2025.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, biển số 27AN-032.23 cùng giấy tờ liên quan mà cơ quan điều tra đã thu giữ là tài sản hợp pháp của chị Lò Thị H2, ngày 22/6/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã trả lại chiếc xe mô tô cùng giấy tờ cho chị H2. Chị H2 đã nhận lại xe xác định không bị hư hỏng gì tự nguyện không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không đặt ra giải quyết.

Đối anh Trần Văn X, anh Thào A D1 là người cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, biển số 27AN-032.23 của D. Quá trình điều tra xác định khi cầm cố chiếc xe mô tô trên anh X và anh D1 không biết chiếc xe là tài sản do D phạm tội mà có, cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với anh X và anh D1 là có căn cứ, nên không không đặt ra giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Quàng Văn D phải bồi thường cho anh Trần Văn X số tiền 12.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Lưu kèm theo hồ sơ vụ án đĩa VIDEO trong phong bì niêm phong.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa: Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hưng Yên đều đề nghị tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sự vắng mặt của những người này tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử khách quan đối với bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận:

Do không có tiền tiêu sài cá nhân nên khoảng 07 giờ ngày 16/02/2025 tại thôn H, xã N, tỉnh Hưng Yên, Quàng Văn D đã thực hiện hành vi lén lút, bí mật vào lán để xe trong khu nhà trọ chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, biển số 27AN-032.23, trị giá 36.000.000 đồng của chị Lò Thị H2 mang đi cầm cố lấy số tiền 12.000.000 đồng rồi bỏ trốn. Sau đó bị bắt theo quyết định truy nã của Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh H.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 173: Tội trộm cắp tài sản quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại trực tiếp đến khách thể là quyền sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự địa phương, gây dư luận xấu. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo buộc phải nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do động cơ tư lợi muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Sau khi phạm tội, bị cáo đã bỏ trốn khỏi địa phương, gây khó khăn, kéo dài quá trình điều tra vụ án, cơ quan Công an phải ra Quyết định truy nã đối với bị cáo. Vì vậy, cần phải có một mức án nghiêm khắc tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

  • Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng. Do vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[3] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng” do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, không có việc làm ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Các biện pháp tư pháp:

Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, biển số 27AN-032.23 là tài sản của chị H2. Ngày 22/6/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã trả lại cho chị Lò Thị H2 01 chiếc trên; Chị H2 đã nhận và không có ý kiến gì nên không Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Do không biết việc D trộm cắp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, biển số 27AN-032.23 nên anh Trần Văn X đã cầm cố chiếc xe với giá 12.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh X, buộc bị cáo phải bồi thường cho anh X số tiền 12.000.000 đồng.

[5] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; điểm b khoản 1 Điều 46; Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều 584, 585 Bộ luật Dân sự;

Khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản

Xử phạt: Bị cáo Quàng Văn D 01 ( một) năm 09 ( chín ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2025.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Quàng Văn D phải bồi thường cho anh Trần Văn X số tiền 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Lưu kèm theo hồ sơ vụ án đĩa VIDEO trong phong bì niêm phong.

Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Quàng Văn D.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án, người được thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND khu vực 4;
  • - Phòng THADS khu vực 4;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, VP.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Vân Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2025/HS-ST ngày 21/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HƯNG YÊN về trộm cắp tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 75/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quàng Văn D phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger