Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 75/2025/HS-ST

Ngày 26 tháng 02 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Hoa

Bà Huỳnh Thị Kim Kiên

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa:

Bà Tống Khánh Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H (tên gọi khác: Không có), sinh năm: 1991 tại Thái Bình.

Nơi cư trú: Không có nơi cư trú rõ ràng.

Đăng ký thường trú: thôn K, xã L, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 09/12.

Họ tên cha: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1969 (còn sống).

Họ tên mẹ: Trần Thị H1, sinh năm 1971 (còn sống).

Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất và không có vợ, con.

Tiền án:

  • Ngày 08/01/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
  • Ngày 21/6/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/9/2024, đến ngày 24/9/2024 chuyển tạm giam cho đến nay.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ – Phân trại tạm giam khu vực B.

- Bị hại: Bà Trần Thị H2, sinh năm: 1975.

Địa chỉ: Tổ C, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai).

(Bị cáo có mặt, bà H2 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H là đối tượng nghiện ma tuý, đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, không có nghề nghiệp ổn định nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để có tiền tiêu xài cá nhân.

Vào khoảng 09 giờ ngày 15/9/2024, H một mình điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 60X9 - 8850 đi quanh phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Đến khoảng 09 giờ 25 phút cùng ngày, khi đi đến trước dãy nhà trọ thuộc tổ C, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, H nhìn thấy cổng dãy trọ không khóa nên dựng xe mô tô biển số 60X9 - 8850 trên đường rồi đi bộ vào bên trong. Khi đi đến phòng trọ số 08 do bà Trần Thị H2 (sinh năm: 1975, thường trú: Tổ C, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) thuê, H thấy cửa phòng trọ mở, bên trong có bà H2 đang nằm ngủ hướng mặt ra cửa phòng trọ, trước mặt bà H2 để 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi Note 11 trên nền nhà, nằm đối diện có cháu Mai Thanh H3 - con gái ruột bà H2 (sinh năm: 2006, cùng thường trú tại địa chỉ trên) nằm quay mặt vào phía trong. H lén lút đi vào bên trong, dùng tay phải cầm điện thoại di động hiệu X 11 lên, bước ra thì bị cháu H3 phát hiện, tri hô, H bỏ chạy ra xe mô tô đang dựng sẵn trước dãy nhà trọ và tẩu thoát. Khi chạy ra đầu hẻm được khoảng 100 mét, H bị anh Mai Trọng L (Sinh năm: 1980, thường trú: Tổ C, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) và anh Trần Công H4 (Sinh năm: 1996, Thường trú: L5-18, tổ A, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) là người dân gần đó giữ lại cùng điện thoại di động H vừa chiếm đoạt được, giao H cho Công an phường T, thành phố B. Công an phường T đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H đồng thời lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Vật chứng vụ án gồm:

  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi Note 11, số imeil 860630063937208, số imei2 860630063937216 là tài sản của bà Trần Thị H2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bà H2 theo quy định.
  • 01 (Một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 60X9 - 8850, số máy F32VE218085, số khung RLCUE3740LY063080 H sử dụng làm phương tiện phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B chưa xác minh được chủ sở hữu nên tách ra để tiếp tục điều tra, làm rõ.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số: 310/KL-HĐĐGTS ngày 17/9/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 (Một) điện thoại di động X 11 bị chiếm đoạt trị giá 1.649.000 đồng (Một triệu sáu trăm bốn mươi chín nghìn đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Bà Trần Thị H2 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Bản cáo trạng số 54/CT-VKSBH ngày 06 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng nêu. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo từ 14 đến 16 tháng tù giam.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại đối với hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận vào khoảng 09 giờ 25 phút ngày 15/9/2024, tại phòng trọ số 08 của dãy nhà trọ thuộc tổ C, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Văn H có 02 (hai) tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp 01 (Một) điện thoại di động X 11 trị giá 1.649.000 đồng (Một triệu sáu trăm bốn mươi chín nghìn đồng) của bà Trần Thị H2 thì bị bắt quả tang, xử lý theo quy định.

[3] Về tội danh:

Xét thấy, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, biên bản ghi hình và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.

[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội tại địa phương. Do đó, cần phải có mức hình phạt phù hợp cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có điều kiện giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung nhưng cũng thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm vào tình tiết nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về phần dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không ra xem xét giải quyết.

[8] Về vấn đề khác: Vật chứng đã xử lý xong nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

[10] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ các Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 15/9/2024.

  3. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về dân sự: Không xem xét giải quyết.
  5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Cẩm

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thái Hoà

Trần Thị Cẩm

Thiều Thị Phi Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 75/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Căn cứ các Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger