Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NAM

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số 75/2025/HNGĐ -ST

Ngày 30/6/2025

(V/v tranh chấp Ly hôn

và con chung )

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM ,TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kiên.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Chung

Bà Nguyễn Thị Yến

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên

Ngày 30/6/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 164/2025/ TLST- HNGĐ ngày 21/5/2025, về việc “Tranh chấp ly hôn và con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/6/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Trịnh Trọng T - Sinh ngày 06/01/1990 (Có mặt),

Số CCCD: [...].

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị P - Sinh ngày 02/3/1991 (Có mặt).

Số CCCD: [...].

Cùng cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn là anh Trịnh Trọng T trình bày: Anh Tú và chị P tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang năm 2012. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống ngay, tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc. Từ năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng hay cãi chửi nhau, đánh nhau, vợ chồng đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Quá trình chung sống thì chị P đã nhiều lần bảo anh T ly hôn. Từ tháng 5 năm 2024 thì vợ chồng không quan tâm, chăm sóc đến nhau. Nay anh T thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn chị P.

Về con chung: Anh Tú và chị P có 03 con chung là Trịnh Phú T1, sinh ngày 2013, Trịnh Huyền D, sinh năm 2016 và Trịnh Huyền A, sinh ngày 2019: Trường hợp ly hôn thì anh T yêu cầu giao chị P trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và các vấn đề khác: Không yêu cầu giải quyết.

2. Bị đơn là chị P tại phiên tòa trình bày: Anh Tú và chị P đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang năm 2012. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống ngay, tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau trong tình cảm vợ chồng. Từ năm 2023 đến nay vợ chồng hay cãi chửi nhau, đánh nhau. Quá trình chung sống thì chị P đã nhiều lần bảo anh T ly hôn nhưng mục đích để anh T thay đổi. Nay anh T yêu cầu ly hôn thì chị P không đồng ý vì muốn đoàn tụ để nuôi dạy con chung.

Về con chung: Anh Tú và chị P có 03 con chung là Trịnh Phú T1, sinh ngày 13/02/2013, Trịnh Huyền D, sinh ngày 02/11/2016 và Trịnh Huyền A, sinh ngày 24/01/2019. Trường hợp Tòa án giải quyết anh T ly hôn chị P thì chị P yêu cầu trực tiếp 03 nuôi dưỡng con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và các vấn đề khác: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

3. Đại diện Viện KSND huyện L, tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa phát biểu quan điểm về việc thực hiện Bộ luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, cũng như việc chấp hành luật pháp của những người tham gia tố tụng, việc tiến hành thu thập chứng cứ và kiểm tra các chứng cứ đầy đủ theo quy định của pháp luật.

Đề nghị căn cứ các Điều 51,56 và 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình; các Điều 26, 28, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 26 và 27 Nghị quyết số 326/ 2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử: Quan hệ hôn nhân: Anh Tú được ly hôn chị P.

Về con chung: Giao chị P trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung Trịnh Phú T1, sinh ngày 13/02/2013, Trịnh Huyền D, sinh ngày 02/11/2016 và Trịnh Huyền A, sinh ngày 24/01/2019.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và các vấn đề khác: Không giải quyết.

Án phí sơ thẩm: Anh Tú phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1.1].Về quan hệ hôn nhân: Anh Tú và chị P có đủ điều kiện kết hôn, tự nguyện đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Do vậy yêu cầu khởi kiện của anh T là có căn cứ giải quyết theo Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình.

Về mâu thuẫn vợ chồng: Theo anh T và chị P trình bày mâu thuẫn do không hợp nhau trong tình cảm. Từ năm 2023 đến nay vợ chồng hay cãi chửi nhau, đánh nhau, vợ chồng hòa giải nhiều lần nhưng không thành vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau, đồng thời chị P đã nhiều lần bảo anh T ly hôn. Nay anh T yêu cầu ly hôn thì chị P không đồng ý. Hội đồng xét xử nhận định: Mặc dù chị P không đồng ý vì muốn đoàn tụ vợ chồng. Tuy nhiên từ năm 2023 đến nay anh T, chị P hay cãi chửi nhau, đánh nhau. Như vậy có căn cứ về việc anh T và chị P đều có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhau, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng là “Thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau” theo quy định tại Điều 19 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Tại phiên tòa anh T vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn, không đồng ý đoàn tụ vợ chồng. Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử nhận định: Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị P đã làm cho quan hệ hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do vậy cần giải quyết cho anh T và chị P được ly hôn.

[1.2]. Về con chung: Anh Tú và chị P có 03 con chung là Trịnh Phú T1, sinh ngày 13/02/2013, Trịnh Huyền D, sinh ngày 02/11/2016 và Trịnh Huyền A, sinh ngày 24/01/2019. Trường hợp vợ chồng ly hôn thì chị P yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung, anh T đồng ý. Xét thấy ý kiến trên của anh T và chị P là tự nguyện, không trái pháp luật và không vi phạm đạo đức xã hội, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của các đương sự và lợi ích của con chung. Do vậy cần giao chị P trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung.

[1.3].Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và các vấn đề khác: Đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.

Căn cứ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; các Điều các Điều 26, 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự; xử :

1.Về quan hệ hôn nhân: Anh Trịnh Trọng T và chị Nguyễn Thị P được ly hôn.

2.Về con chung: Giao chị P trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung là Trịnh Phú Tài, sinh ngày 2013, Trịnh Huyền D, sinh năm 2016 và Trịnh Huyền A, sinh ngày 2019. Anh Tú được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung mà không ai được cản trở

3. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và các vấn đề khác: Không giải quyết.

4.Án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/ 2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Anh Tú phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0004798 ngày 21/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

Anh Tú và chị P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên bản án sơ thẩm.

Nơi nhận

  • - Đương sự,
  • - TAND T. BG
  • - VKSNDH. Lục Nam
  • - THADSH. Lục Nam,
  • - UBND xã Đông Phú
  • - Lưu

T/ M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2025/HNGĐ -ST ngày 30/06/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang về tranh chấp ly hôn và con chung

  • Số bản án: 75/2025/HNGĐ -ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger