Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:75/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28-02-2025

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hồng Trang
Các Hội thẩm nhân dân Ông Trần Xuân Thành
Ông Võ Duy Bảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bằng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 439/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định xét xử số 42/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị S, sinh năm 1990; Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Anh Trần Quốc D, sinh năm 1987; Địa chỉ trước xuất cảnh: Xóm T, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hiện đang ở nước ngoài. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Đặng Thị S trình bày: chị và anh Trần Quốc D kết hôn trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 19 tháng 11 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau hạnh phúc đến năm 2016 anh D đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Thời gian đầu vợ chồng vẫn còn liên lạc, quan tâm chăm sóc hỏi han nhau nhưng sau đó thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, cãi vã thường xuyên. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, hôn nhân không thể duy trì, chị S đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh D.

Về con chung: Chị S và anh D có 01 con chung là Trần Hải Đ, sinh ngày 15/8/2016. Hiện con chung đang ở với chị. Chị Đặng Thị S có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị S và anh D không có tài sản chung, nợ chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là anh Trần Quốc D: Quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, bị đơn là anh Trần Quốc D vắng mặt. Chị Đặng Thị S không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh D cư trú, chị chỉ biết hiện nay anh D đang sinh sống tại Đài Loan. Tòa án đã hai lần gửi văn bản yêu cầu ông Trần Viết H và Nguyễn Thị N (là bố, mẹ ruột của anh D) trú tại: Xóm T, thôn T, huyện N, tỉnh Nghệ An cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cũng như yêu cầu ông bà thông báo với anh D để gửi lời khai cho Tòa án. Tuy nhiên ông H và bà N đã xem nội dung nhưng từ chối nhận các văn bản của Toà án tống đạt. Tại biên bản xác minh ông H cho biết thời gian ở nước ngoài, anh D có liên lạc với ông bà qua điện thoại còn địa chỉ cụ thể của anh D thì anh D không cung cấp nên ông không biết. Còn việc ly hôn thì ông không liên quan.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.
  • - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Đặng Thị S và anh Trần Quốc D được ly hôn. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Hải Đ, sinh ngày 15/8/2016. Hiện con chung đang ở với chị S. Chị Đặng Thị S có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Trần Hải Đ cho chị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho bị đơn do nguyên đơn chưa có yêu cầu.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét do nguyên đơn không yêu cầu;
  • - Về án phí: chị S phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Đặng Thị S hiện cư trú tại Việt Nam làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Quốc D hiện cư trú ở nước ngoài; trước xuất cảnh, anh D có địa chỉ cư trú tại huyện N, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.

[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là anh Trần Quốc D vắng mặt, Tòa án đã gửi công văn yêu cầu ông H và bà N (Là bố mẹ ruột của anh D) cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn và thông báo cho anh D biết để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, ông H và bà N từ chối nhận văn bản của Toà án. Đến nay, Tòa án vẫn chưa nhận được văn bản trình bày ý kiến của anh D liên quan đến yêu cầu khởi kiện, nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung, Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh D trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Đặng Thị S vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt, bị đơn ông Trần Quốc D vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt các đương sự.

[3] Xét nội dung vụ án và các ý kiến, yêu cầu của đương sự:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị S và anh Trần Quốc D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống chung hạnh phúc một thời gian thì đã phát sinh mâu thuẫn. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do tính tình không hợp, anh D đang sinh sống làm việc tại Đài Loan, chị S đang ở Việt Nam, hai bên không còn liên lạc, quan tâm nhau, tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Chị S có nguyện vọng được ly hôn với anh D. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị S và anh D không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Vì vậy, nếu kéo dài cuộc hôn nhân này thì mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Đặng Thị S được ly hôn với anh Trần Quốc D là phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[3.2] Về con chung: Chị S và anh D có 01 con chung là Trần Hải Đ, sinh ngày 15/8/2016. Hiện con chung đang ở với chị S. Chị Đặng Thị S có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Xét hoàn cảnh thực tế của các bên thấy rằng hiện nay anh D đang sống và làm việc tại nước ngoài, nguyên đơn và thân nhân cũng không cung cấp được địa chỉ của anh D. Chị S có nguyện vọng chăm sóc nuôi dưỡng con chung để ổn định việc sinh hoạt và học tập cho các cháu. Xét thấy, nguyện vọng của chị S là chính đáng, phù hợp với nguyện vọng của con chung và điều kiện thực tế vì hiện nay anh D đang ở nước ngoài và cố tình giấu địa chỉ nên cần chấp nhận yêu cầu của chị S. Về cấp dưỡng nuôi con, chị S chưa yêu cầu và anh D cũng chưa có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đặng Thị S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.

[4] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Đặng Thị S phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40, khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

    Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị S.

    • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị S được ly hôn với anh Trần Quốc D.
    • - Về con chung: Giao con chung Trần Hải Đ, sinh ngày 15/8/2016 chị Đặng Thị S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Đặng Thị S chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
    • Sau khi ly hôn, anh Trần Quốc D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
    • - Về tài sản chung, nợ chung: Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
  2. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc chị Đặng Thị S phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0013388 ngày 25 tháng 10 năm 2024.
  3. Chị Đặng Thị S có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án; anh Trần Quốc D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Trung Phúc Cường, h. Nam Đàn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hồng Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 75/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn do mâu thuẫn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger