TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2025/HNGĐ-ST
Ngày 27 tháng 6 năm 2025
“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Huyền;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hảo;
Bà Nguyễn Thị Phẩm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 75/2025/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 04 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2025 giữa:
Nguyên đơn: Anh Bùi Văn L, sinh năm 1986; địa chỉ: Xóm Đ, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Bị đơn: Chị Đinh Thị T, sinh năm 1987; nơi đăng ký HKTT: Khu F, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ. Hiện đang ở nước ngoài (Đài Loan).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đinh Thị B, sinh năm 1962; địa chỉ: Khu F, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.
(Anh L và bà B vắng mặt đều có đơn xin xét xử vắng mặt. T vắng mặt lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng anh Bùi Văn L trình bày: Anh và chị Đinh Thị T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ ngày 01/3/2010. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó đến năm 2021 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và cách xây dựng làm ăn kinh tế. Là người chồng anh đã cố gắng khắc phục, khuyên bảo nhưng hai vợ chồng không thể hàn gắn được. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị ly hôn chị T để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Anh L xác định vợ chồng có hai con chung là cháu Bùi Đinh Duy A, sinh ngày 13/5/2010 và cháu Bùi Đinh Khánh L1, sinh ngày 17/6/2016. Anh đề nghị Tòa án cho chị Đinh Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T. Trong thời gian chị T ở nước ngoài thì anh đồng ý tạm giao cho mẹ của chị T là bà Đinh Thị B thay mặt trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu đến khi chị T về nước. Trong thời gian bà B được tạm giao nuôi hai cháu Duy A và Khánh L1, anh không cấp dưỡng nuôi các cháu cùng bà B.
Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Anh Bùi Văn L xác định vợ chồng không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Phía bị đơn: Chị Đinh Thị T hiện đang ở nước ngoài thể hiện tại công văn số: 341/PA08-Đ1 ngày 14/4/2025 của Phòng Q Công an tỉnh P xác định chị T xuất cảnh ngày 11/8/2024 qua Sân bay quốc tế N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Do anh L không biết địa chỉ của chị T ở đâu tại nước ngoài nên Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của bà Đinh Thị B là mẹ đẻ của chị T và được bà B cung cấp như sau: Hiện tại chị T đang ở Đài Loan địa chỉ cụ thể bà không biết. Nhưng bà và chị T vẫn thường xuyên liên lạc qua Zalo hoặc Facebook, bà đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho chị T. Thông qua điện thoại bà đã trao đổi nội dung anh L xin ly hôn chị T và chị T có quan điểm nhất trí ly hôn vì anh L không quan tâm vợ con nhiều năm nay, chị T đã cố gắng hàn gắn nhưng không được.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị B trình bày: Về con chung của chị T và anh L: Bà B xác định vợ chồng chị T và anh L có hai con chung là cháu Bùi Đinh Khánh L1 sinh ngày 17/6/2016 và cháu Bùi Đình Duy A1, sinh ngày 13/5/2010. Chị T có quan điểm đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung. Trong thời gian chị T ở nước ngoài, bà B đồng ý thay mặt chị T trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu. Bà không yêu cầu chị T và anh L phải cấp dưỡng nuôi các cháu cùng bà.
Quá trình giải quyết vụ án hai cháu Bùi Đinh Duy A và cháu Bùi Đinh Khánh L1 đều có bản tự khai và trình bày là có nguyện vọng ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về những nội dung sau:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, 83, 123 Luật HNGĐ năm 2014; khoản 3 Điều 35; Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 469 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Bùi Văn L được ly hôn với chị Đinh Thị T.
- Về con chung: Giao cháu Bùi Đinh Duy A, sinh ngày 13/5/2010 và Bùi Đinh Khánh L1, sinh ngày 17/6/2016 cho chị T trực tiếp chăm sóc giáo dục cho đến khi các cháu thành niên, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu. Trong thời gian chị T đi làm việc ở nước ngoài tạm giao cháu L1 và cháu cho mẹ đẻ chị T là bà Đinh Thị B chăm sóc, giáo dục các cháu. Anh L, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bà B do bà không yêu cầu. Không ai được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
2
- Về án phí Hôn nhân dân gia đình sơ thẩm: Anh Bùi Văn L là người dân tộc thiểu số ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn đã có đơn xin miễn án phí, nên anh L được miễn án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về tố tụng: Bị đơn chị Đinh Thị T đăng ký hộ khẩu thường trú tại Khu F, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ. Theo Công văn số: 341/PA08 - Đ1 ngày 14/4/2025 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh P xác định chị T xuất cảnh ngày 11/8/2024 qua Sân bay quốc tế N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Căn cứ khoản 3 điều 35, điểm a khoản 1 điều 37; điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Trong vụ án này chị T không có mặt ở Việt Nam nên Tòa án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng với quy định của pháp luật.
Anh Bùi Văn L đề nghị xin ly hôn với chị Đinh Thị T và chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của chị T mà không cung cấp được địa chỉ chị T ở chỗ nào tại nước ngoài. Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng thông qua mẹ đẻ của chị T là bà Đinh Thị B. Bà B đã thông báo cho chị T biết, bà B không biết địa chỉ cụ thể của chị T ở đâu tại nước ngoài. Căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Tại phiên tòa anh Bùi Văn L và bà Đinh Thị B vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn L và chị Đinh Thị T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ ngày 01/3/2010, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, theo anh L trình bày giữa anh L và chị T có xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu là quan điểm sống không hợp nhau. Anh L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T. Mặc dù chị T không có lời khai xong thông qua bà B là mẹ của chị T cung cấp quan điểm của chị T nhất trí ly hôn với anh L. Do vậy, có căn cứ để xác định tình cảm vợ chồng giữa anh L và chị T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xử cho anh L được ly hôn với chị T là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Anh L và chị T có hai con chung là cháu Bùi Đinh Duy A, sinh ngày 13/5/2010 và cháu Bùi Đinh Khánh L1, sinh ngày 17/6/2016. Chị T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T. Trong thời gian chị T ở nước ngoài thì anh L đồng ý tạm giao cho mẹ của chị T là bà Đinh Thị B thay mặt trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu đến khi chị T về nước. Trong thời gian bà B được tạm giao nuôi hai cháu Duy A và Khánh L1, anh L không cấp dưỡng nuôi các cháu cùng bà B.
3
Xét thấy: Nguyện vọng được nuôi con chung là nguyện vọng chính đáng của đương sự nên cần xem xét nguyện vọng phù hợp với quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết hai cháu Duy A và Khánh L1 cũng đều có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Hội đồng xét xử thấy rằng việc giao con chung cho ai nuôi cần đảm bảo cuộc sống mọi mặt cho các cháu. Vì vậy, để cháu có điều kiện sống tốt nhất và ổn định thì cần giao hai cháu được nuôi dưỡng theo nguyện vọng của chị T và con chung là phù hợp. Trong thời gian chị xuất cảnh nước ngoài sẽ tạm giao cho bà Đinh Thị B là mẹ chị Đinh Thịu T1 thay mặt nuôi dưỡng hai cháu.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị Đinh Thị T tự nguyện không yêu cầu anh Bùi Văn L cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T là yêu cầu tự nguyện phù hợp với pháp luật cần xác nhận.
[3]. Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Anh L xác định vợ chồng không có, không đề nghị Tòa giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét.
[4]. Về án phí: Anh L được miễn tiền án phí ly hôn sơ thẩm do là người dân tộc thiểu số ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn.
[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 điều 56, điều 81, điều 82, điều 83 và điều 123 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 điều 35, điểm a khoản 1 điều 37; điểm a khoản 1 điều 39; điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 228; khoản 1, 2 điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn L được ly hôn chị Đinh Thị T.
[2] Về con chung: Giao cho chị Đinh Thị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung là cháu Bùi Đinh Duy A sinh ngày 13/5/2010 và cháu Bùi Đinh Khánh L1 sinh ngày 17/6/2016. Xác nhận chị Đinh Thị T tự nguyện không yêu cầu anh Bùi Văn L phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Trong thời gian chị Đinh Thị T ở nước ngoài, tạm giao cháu Bùi Đinh Duy A và cháu Bùi Đinh Khánh L1 cho bà Đinh Thị B (Là mẹ của chị Đinh Thị T) trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi chị T về nước đón các cháu.
Anh Bùi Văn L và chị Đinh Thị T không phải cấp dưỡng nuôi cháu Duy A và cháu L1 cùng bà Đinh Thị B vì bà B tự nguyện không yêu cầu.
4
Anh Bùi Văn L có quyền, nghĩa vụ trông nom, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
[3].Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không đặt ra xem xét giải quyết.
[4]. Về án phí: Anh Bùi Văn L được miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
[5]. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại Việt Nam có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án để đề nghị Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm. Đương sự cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (Một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Thị Phẩm Bùi Thị H | Lê Thị Thu Huyền |
5
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Huyền |
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
6
Bản án số 75/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 75/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa anh Bùi Văn L và chị Đinh Thị T
