|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH LONG AN Bản án số: 75/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26-6-2025 V/v ly hôn giữa bà T và ông M |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Huỳnh Thủy Tiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trương Thành Phương.
- Bà Lâm Thị Ngọc Huệ.
- Thư ký phiên tòa: bà Đặng Thị Lan Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 226/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 về Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: bà Sầm Thị Bé T, sinh năm: 1981;
Nơi đăng ký thường trú: ấp R, xã L, huyện C, tỉnh Long An;
Chỗ ở hiện nay: ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
-
Bị đơn: ông Phạm Hùng M, sinh năm: 1977;
Địa chỉ: ấp R, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
(Bà T và ông M có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/5/2025, bản tự khai ngày 05/5/2025, nguyên đơn bà Sầm Thị Bé T trình bày:
Về hôn nhân: bà T và ông M tổ chức lễ cưới vào ngày 26/9/2008 âm lịch, có thực hiện việc đăng ký kết hôn ngày 07/10/2008 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Ông M chỉ ăn nhậu, không lo làm để phụ giúp gia đình. Từ đó xảy ra cải vã và ông M thường nhậu về chửi bới bà T, đuổi bà T ra khỏi nhà. Vợ chồng đã không còn sống chung nhà. Nhận thấy vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông M.
Về nuôi con chung: bà T và ông M chung sống có 01 người con chung tên Phạm Bình K, sinh ngày 03/02/2009, hiện nay đang sống với bà T. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không có.
- Tại bản tự khai, bị đơn ông Phạm Hùng M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: bà Sầm Thị Bé T yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý.
Về con chung: có 01 con chung Phạm Bình K, sinh năm 2009. Ông M đồng ý giao con cho vợ nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không có.
Về nợ chung: không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Bà Sầm Thị Bé T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phạm Hùng M, ông M có nơi cư trú tại xã L, huyện C, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện C thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn bà Sầm Thị Bé T và bị đơn ông Phạm Hùng M có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T, ông M theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về hôn nhân: bà Sầm Thị Bé T và ông Phạm Hùng M có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 127, quyển số 01/2008, ngày 07/10/2008 nên xác định hôn nhân giữa bà T và ông M là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà T trình bày, sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Ông M chỉ ăn nhậu, không lo làm để phụ giúp gia đình. Từ đó xảy ra cải vã và ông M thường nhậu về chửi bới bà T, đuổi bà T ra khỏi nhà. Vợ chồng đã không còn sống chung nhà. Nhận thấy vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông M. Ông M trình bày đồng ý ly hôn với bà T. Do đó, căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông M.
[2.2] Về nuôi con chung: bà T và ông M có 01 con chung tên Phạm Bình K, sinh ngày 03/02/2009. Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Ông M đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy, con chung Phạm Bình K hiện đang sống chung với bà T, cuộc sống ổn định và cháu K có nguyện vọng được chung sống với bà T. Điều này phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phạm Bình K. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, bà T trình bày không yêu cầu ông M phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: bà T và ông M trình bày không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Sầm Thị Bé T về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Phạm Hùng M.
- Về hôn nhân: bà Sầm Thị Bé T được ly hôn với ông Phạm Hùng M.
-
Về nuôi con chung: giao con chung tên Phạm Bình K, sinh ngày 03/02/2009 cho bà Sầm Thị Bé T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Phạm Hùng M không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về án phí: bà Sầm Thị Bé T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu số 0018617 ngày 15 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, bà T đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo bản án sơ thẩm: đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự: thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thủy Tiên |
Bản án số 75/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN về ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 75/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
