Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOÀI ÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bản án số: 75/2025/HNGĐ-ST

Ngày 26-5-2025

V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hồng Nam.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Lê Thanh Việt;
    • Ông Phạm Minh Tấn.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Mơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: ông Trần Đức Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 26/5/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 44/2025/TLST-HNGĐ ngày 09/4/2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/5/2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1990;
  • Địa chỉ: Tổ A, thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
  • Bị đơn: Ông Võ Quốc K, sinh năm 1988;
  • Nơi đăng ký thường trú: Tổ A, thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam;
  • Nơi ở hiện tại: Đang chấp hành án tại phân trại 01, Trại giam K1 – Bộ C1.

Nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 09/4/2025 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng H trình bày:

Về hôn nhân:

Vợ chồng bà kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam vào ngày 02/6/2008, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống ở nhà riêng tại huyện T. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, tới ngày 30/12/2022 thì ông K bị bắt về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”, bị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam tuyên xử 10 năm tù. Sau đó, ông K đi chấp hành án tại Phân trại 01, Trại giam K1 – Bộ C1. Từ ngày ông K đi chấp hành án, bà vẫn thường xuyên đi thăm nuôi ông K. Tuy nhiên, vì vợ chồng ngày càng xa cách, gánh nặng kinh tế, bà phải lo cho 04 đứa con nên tình cảm với ông K ngày càng nhạt dần. Bà làm nghề buôn bán tự do, thu nhập bình quân 10.000.000 đồng/tháng. Tháng 02 năm 2025, bà đề nghị ly hôn với ông K thì ông K đồng ý. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn tình cảm nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Võ Quốc K.

Về con chung:

Bà và ông Võ Quốc K có 04 con chung: Võ Khánh V, sinh ngày 16/9/2008; Võ Khánh P, sinh ngày 19/11/2012; Võ Khánh N, sinh ngày 25/11/2016 và Võ Ngọc C, sinh ngày 21/9/2018; hiện nay các con đang được bà nuôi dưỡng ổn định. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 04 con chung; không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung:

Bà và ông Võ Quốc K không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 24/4/2025, bị đơn ông Võ Quốc K trình bày:

Về hôn nhân:

Ông và bà Nguyễn Thị Hồng H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam vào ngày 02/6/2008, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống ở nhà riêng tại huyện T. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, ngày 30/12/2022 thì ông bị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam tuyên xử 10 năm tù về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Sau đó, ông được đưa đi chấp hành án tại Trại giam K1. Từ ngày ông đi chấp hành án, bà H vẫn thường xuyên đến thăm ông, gần đây nhất cách đây khoảng một tháng. Vợ chồng ông không có mâu thuẫn gì, chỉ vì ông đi chấp hành án thời gian dài nên tình cảm vợ chồng ngày càng nhạt dần và xa cách. Nay bà H yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý.

Về con chung:

Ông và bà Nguyễn Thị Hồng H có 04 con chung tên Võ Khánh V, sinh ngày 16/9/2008; Võ Khánh P, sinh ngày 19/11/2012; Võ Khánh N, sinh ngày 25/11/2016 và Võ Ngọc C, sinh ngày 21/9/2018; hiện nay các con đang được bà H nuôi dưỡng ổn định. Khi ly hôn, ông yêu cầu nuôi 04 con chung, ông đang trong thời gian chấp hành án thì sẽ giao 04 con cho bố mẹ ruột của ông ở nhà nuôi. Khi chấp hành án xong (07 năm nữa) ông sẽ tiếp tục lo cho các con. Ông không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung:

Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát huyện H, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng:

trong giai đoạn thụ lý hồ sơ, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về hôn nhân:

Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà Nguyễn Thị Hồng H và ông Võ Quốc K không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị Hồng H được ly hôn ông Võ Quốc K.

Về con chung:

Đề nghị giao 04 con chung tên Võ Khánh V, sinh ngày 16/9/2008; Võ Khánh P, sinh ngày 19/11/2012; Võ Khánh N, sinh ngày 25/11/2016 và Võ Ngọc C, sinh ngày 21/9/2018 cho bà Nguyễn Thị Hồng H tiếp tục nuôi dưỡng; ông Võ Quốc K không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng H có đơn yêu cầu ly hôn ông Võ Quốc K. Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Võ Quốc K là phạm nhân hiện đang chấp hành án tại Phân trại 01, Trại giam K1 – Bộ C1 thuộc xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân.

[2] Xét đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt của bà Nguyễn Thị Hồng H và ông Võ Quốc K. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng H và ông Võ Quốc K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam vào ngày 02/6/2008 nên hôn nhân của vợ chồng ông bà là hợp pháp. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, tới ngày 30/12/2022, ông K bị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam tuyên xử 10 năm tù về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”, sau đó đi chấp hành án ở Trại giam K1 – Bộ C1. Từ đó bà H vẫn thường xuyên đi thăm ông K. Theo bà H trình bày: Nguyên nhân bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà ly hôn với ông K là do ông K đi chấp hành án thời gian dài, vợ chồng ngày càng xa cách, gánh nặng kinh tế vì bà phải lo cho 04 đứa con nên tình cảm với ông K ngày càng nhạt dần. Tháng 02 năm 2025, bà đề nghị ly hôn với ông K thì ông K đồng ý.

Còn bị đơn ông Võ Quốc K cho rằng giữa ông và bà H không có mâu thuẫn gì, chỉ vì ông đi chấp hành án thời gian dài nên tình cảm vợ chồng ngày càng nhạt dần và xa cách. Đối với yêu cầu ly hôn của bà H thì ông đồng ý.

Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà Nguyễn Thị Hồng H và ông Võ Quốc K mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cho dù có kéo dài cuộc sống vợ chồng cũng không hạnh phúc và thực tế họ không còn sống chung, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại các Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Hồng H và ông Võ Quốc K có có 04 con chung: Võ Khánh V, sinh ngày 16/9/2008; Võ Khánh P, sinh ngày 19/11/2012; Võ Khánh N, sinh ngày 25/11/2016 và Võ Ngọc C, sinh ngày 21/9/2018. Bà H và ông K đều yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 04 con chung. Xét yêu cầu của các bên, Tòa án nhận thấy: Việc giao con chung chưa thành niên cho ai trông nom, nuôi dưỡng phải xuất phát từ quyền lợi về mọi mặt của người con, đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của con, có xem xét đến điều kiện nuôi dưỡng, giáo dục của mỗi bên. Các con đang được bà H nuôi dưỡng ổn định, còn ông K đang đi chấp hành án hình phạt tù tại Trại giam K1 (thời gian chấp hành án còn 07 năm), đối với yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 04 con chung của ông K là không có cơ sở chấp nhận. Tại biên bản lấy lời khai ngày 11/4/2025 của cháu V, P, N, C đều có nguyện vọng được tiếp tục ở với bà H. Nên giao con chung cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Hồng H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Hồng H và ông Võ Quốc K không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51; 56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân:

    Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

    Bà Nguyễn Thị Hồng H được ly hôn ông Võ Quốc K.

  2. Về con chung:

    Giao con chung tên Võ Khánh V, sinh ngày 16/9/2008; Võ Khánh P, sinh ngày 19/11/2012; Võ Khánh N, sinh ngày 25/11/2016 và Võ Ngọc C, sinh ngày 21/9/2018 cho bà Nguyễn Thị Hồng H tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Võ Quốc K được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Vì lợi ích của con, các bên: Người thân thích của con; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con:

    Không xem xét.

  4. Về tài sản chung, nợ chung:

    Không xem xét.

  5. Về án phí:

    Bà Nguyễn Thị Hồng H phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0004911, ngày 09/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.

  6. Quyền kháng cáo:

    Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết bản án theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - Sở tư pháp;
  • - VKSND huyện Hoài Ân + Tình;
  • - Các bên đương sự;
  • - CC THADS huyện Hoài Ân;
  • - UBND xã Bình Tú, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam;
  • - Lưu HSVA, VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Hồng Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 75/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger