Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHONG ĐIỂN

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25/6/2025

“V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Anh Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Lương.
  2. Nguyễn Thị Thanh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phong Điền.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phong Điền, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Phong Điền, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025, về: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh M, sinh năm 1991; số định danh cá nhân/CCCD: [...]; địa chỉ: Thôn V, xã P, thị xã P, thành phố H. Có mặt.
  2. Bị đơn: Anh Hồ Văn D, sinh năm 1984; số định danh cá nhân/CCCD: [...]; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường P, thị xã P, thành phố H. Vắng mặt lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 10/3/2025, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh M và anh Hồ Văn D tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 06/6/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Ủy ban nhân dân phường P, thị xã P, thành phố H). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không thương yêu, quý trọng nhau nên thường xuyên xảy ra cải vã, xúc phạm, anh D có đánh đập chị. Từ năm 2020 cho đến nay vợ chồng sống ly thân, không quan tâm chăm sóc cho nhau, cuộc sống của ai người đó tự lo liệu. Nay chị Minh xác Đ mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh D.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thanh M trình bày vợ chồng có 01 người con chung là cháu Hồ Nguyễn Mỹ A, sinh ngày 05/8/2013. Chị M yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu A cho đến khi đủ 18 tuổi. Tại phiên toà, chị M không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn đã nộp các tài liệu, chứng cứ gồm: Trích lục kết hôn, bản sao giấy khai sinh cháu Hồ Nguyễn Mỹ A, bản sao căn cước công dân của chị Nguyễn Thị Thanh M, anh Hồ Văn D.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải cho anh Hồ Văn D nhưng quá thời hạn luật định, anh D không có bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được.

Kết quả xác minh: Gia đình anh Hồ Văn D cho biết đã nhận các văn bản tố tụng của Toà án và đã giao lại cho anh D, anh D cũng có nguyện vọng ly hôn chị M nhưng do bận công việc làm ăn nên không đến Toà án được.

Tại phiên tòa ngày 09/6/2025, anh D vắng mặt lần thứ nhất nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa; tống đạt quyết định hoãn phiên toà, giấy triệu tập cho anh D. Tại phiên toà lần thứ hai, anh D tiếp tục vắng mặt không có lý do.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, nhiều lần vắng mặt tại phiên hòa giải, phiên tòa.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên toà, nhận định:

[1] Về tố tụng:

1.1. Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn là anh Hồ Văn D, có địa chỉ cư trú tại phường P, thị xã P, thành phố H. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thị xã Phong Điền.

1.2. Về thủ tục tố tụng: Theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự, việc tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng cho bị đơn là hợp lệ. Anh Hồ Văn D vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh M và anh Hồ Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 06/6/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Ủy ban nhân dân phường P, thị xã P, thành phố H), do đó quan hệ hôn nhân giữa hai người là hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, vợ chồng không thương yêu quý trọng nhau nên thường xuyên xảy ra cải vã, xúc phạm, đánh đập nhau. Từ năm 2020 cho đến nay vợ chồng sống ly thân, không quan tâm chăm sóc cho nhau, cuộc sống của ai người đó tự lo liệu. Toà án đã nhiều lần thông báo về phiên hoà giải nhưng anh D nhiều lần vắng mặt nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị M, anh D đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M.

[2.2] Về việc nuôi con chung: Xét yêu cầu của chị M về việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Hồ Nguyễn Mỹ A, sinh ngày 05/8/2013 thấy rằng: Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu A. Cháu A cũng có nguyện vọng được ở với chị M. Anh Dũng không có ý kiến gì về việc nuôi con chung. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của chị M, giao cháu A cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình thì khi ly hôn cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Chị M không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét

[2.3] Về tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thanh M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh M. Chị Nguyễn Thị Thanh M được ly hôn anh Hồ Văn D.
  2. Về việc nuôi con chung: Giao cháu Hồ Nguyễn Mỹ A, sinh ngày 05/8/2013 cho chị Nguyễn Thị Thanh M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.
  3. Anh Hồ Văn D không cấp dưỡng nuôi con chung.

    Anh Hồ Văn D có quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thanh M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002799 ngày 10/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phong Điền. Chị M đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Huế;
  • - VKSND thị xã Phong Điền;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS thị xã Phong Điền;
  • - UBND phường Phong Phú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Anh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 75/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Thanh M yêu cầu ly hôn anh Hồ Văn D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger