Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN LỘC

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24-6-2025

V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lữ Quốc Toàn

Bà Nguyễn Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thiêm - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Không tham gia

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 710/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Mỹ D – sinh năm 1994 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp B, xã X, huyện X tỉnh Đồng Nai.

Số căn cước công dân: [...]; Ngày cấp: 12/8/2021

- Bị đơn: Anh Trương Thanh H - sinh năm 1989 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp B, xã X, huyện X tỉnh Đồng Nai.

Số căn cước công dân: [...]; Ngày cấp: 12/8/2021

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ D trình bày:

Chị Trần Thị Mỹ D và anh Trương Thanh T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn vào năm 2014 tại UBND xã X. Quá trình chung sống, vợ chồng không hạnh phúc do bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp. Vợ chồng hay cãi vả, gây gỗ, sống thiếu tôn trọng nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2024 cho đến nay. Nay, chị D yêu cầu ly hôn với anh T vì mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm gì với nhau.

Vợ chồng có 01 con chung là cháu Trương Thanh P – sinh ngày 09/10/2016, hiện nay đang do chị D nuôi dưỡng. Chị D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung, chị D không yêu cầu giải quyết.

Vợ chồng không có nợ chung, nên không yêu cầu giải quyết.

* Tại bản tự khai ngày 14/11/2024, bị đơn anh Trương Thanh T trình bày: Vợ chồng chung sống với nhau bình thường cho đến tháng 8 năm 2024 thì xảy ra mâu thuẫn, cãi vả. Từ đó chị D bỏ về nhà mẹ đẻ và vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Hiện tại anh T không muốn ly hôn vì mâu thuẫn giữa vợ chồng không lớn.

Vợ chồng có 01 con chung Trương Thanh P – sinh ngày 09/10/2016. Trong trường hợp Tòa án giải quyết cho chị D và anh T ly hôn thì giao con chung cho chị D nuôi dưỡng.

Về tài sản chung, không yêu cầu giải quyết.

Vợ chồng không có nợ chung, nên không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Mỹ D và anh Trương Thanh T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn vào năm 2014, nên hôn nhân của anh chị được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

[2] Chị Trần Thị Mỹ D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh T đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó, phiên tòa được tiến hành vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:

Chị D cho rằng quá trình chung sống, vợ chồng không hạnh phúc do bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp. Vợ chồng hay cãi vả, gây gỗ, sống thiếu tôn trọng nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2024 cho đến nay.

Anh T cũng thừa nhận vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân nhau. Anh T không đồng ý ly hôn với chị D. Tuy nhiên, trong thời gian vợ chồng sống ly thân, anh T không có sự cố gắng hòa giải mâu thuẫn vợ chồng. Tòa án triệu tập anh T đến làm việc nhưng anh vắng mặt nhiều lần. Đồng thời, anh T cũng không tham gia phiên tòa xét xử vụ án để trình bày ý kiến của mình về nguyện vọng hòa giải đoàn tụ vợ chồng.

Qua những tình tiết trên của vụ án, xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Nghĩ nên chấp nhận cho chị D được ly hôn với anh T.

[4] Về con chung: Chị D và anh T có 01 con chung Trương Thanh P – sinh ngày 09/10/2016. Xét cháu P hiện nay do chị D nuôi dưỡng và cháu có nguyện vọng được ở với mẹ, nên chấp nhận giao cháu P cho chị D nuôi dưỡng là phù hợp. Chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con, nên không xem xét giải quyết.

[5] Về nợ chung: Chị D và anh T khai không có nợ chung, nên không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[6] Về tài sản chung: Chị D và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung, nên không xem xét.

[7] Về án phí: Chị D phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận cho chị Trần Thị Mỹ D được ly hôn với anh Trương Thanh T.
  2. Về con chung: Giao cháu Trương Thanh P – sinh ngày 09/10/2016 cho chị Trần Thị Mỹ D trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

    Chị Trần Thị Mỹ D không yêu cầu anh Trương Thanh T cấp dưỡng cho con.

    Anh Trương Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền ngăn cản.

    Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết, chị Trần Thị Mỹ D và anh Trương Thanh T được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như yêu cầu về việc cấp dưỡng cho con.

  3. Về án phí: Chị Trần Thị Mỹ D phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) chị Trần Thị Mỹ D nộp theo biên lai thu số 0011501 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc được tính trừ vào án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Xuân Lộc;
  • - Chi cục THADS huyện Xuân Lộc;
  • - UBND xã Xuân Hòa (quyển số 01/2014);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu án văn, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn

  • Số bản án: 75/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận cho chị Trần Thị Mỹ Dung được ly hôn với anh Trương Thanh Tùng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger