TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 75/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20/3/2025 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Trung Thông |
| Các Hội thẩm nhân dân. | Ông Nguyễn Đức Kha |
| Ông Đặng Thiên Hùng | |
| - Thư ký phiên tòa: | Bà Trần Như Ý - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang. |
| - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: | Bà Hà Thị Hải. |
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 241/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXX-ST ngày 14/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/02/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ninh Thị H, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Nơi cư trú: tổ dân phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nơi ở hiện nay: Cộng hòa Síp
Chị H ủy quyền cho chị Nguyễn Thị H, sinh năm 2000; Nơi cư trú: thôn D, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang giao nhận văn bản tố tụng với Tòa án. - Bị đơn: Anh Từ Văn S, sinh năm 1989 (có mặt)
Nơi cư trú: tổ dân phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn, nguyên đơn chị Ninh Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh S được tự nguyện, tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 18/7/2013 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Sau kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận. Năm 2023 do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên chị đi lao động tại Cộng hòa Síp. Do khoảng cách địa lý xa xôi nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, cách nuôi dạy con nên không còn sự gắn bó dẫn đến bỏ mặc cuộc sống của nhau. Đến nay, chị và anh S không còn liên lạc với nhau, không còn quan tâm yêu thương lẫn nhau. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Từ Văn S.
Về con chung: Chị và anh S có 02 con chung là cháu Từ Huy K, sinh ngày 19/4/2014 và cháu Từ Linh Đ, sinh ngày 09/9/2017, hiện nay các con đang sinh sống cùng anh S. Sau khi ly hôn chị đề nghị giao 02 con chung cho anh S là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai anh Từ Văn S trình bày:
Về hôn nhân: Anh, chị được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Sau kết hôn chị H về nhà anh làm dâu và chung sống hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên tháng 5/2023 chị H đi lao động tại Cộng hòa Síp. Sau khi sang Síp anh, chị vẫn hòa thuận nhưng đến tháng 5/2024 anh, chị phát sinh mâu thuẫn. Kể từ đó vợ chồng không còn liên lạc với nhau nữa. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo nhưng không được. Nay, anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn chị H.
Về con chung: anh, chị H có 02 con chung là cháu Từ Huy K, sinh ngày 19/4/2014 và cháu Từ Linh Đ, sinh ngày 09/9/2017, hiện nay các cháu Đg sinh sống cùng anh. Sau khi ly hôn anh đề nghị giao 02 con chung cho anh là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh yêu cầu chị H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung cùng anh với mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng/ 01 tháng/ 01 cháu.
Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Cháu Từ Huy K, Từ Linh Đ trình bày: Từ khi sinh ra cho đến nay các cháu sinh sống cùng bố tại tổ dân phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống được bố chăm sóc đầy đủ cả về thể chất lẫn tinh thần. Mẹ các cháu hiện đang lao động tại nước ngoài. Do các cháu Đg chung sống ổn định cùng bố nên nếu bố mẹ ly hôn các cháu muốn ở cùng bố.
Tại phiên tòa, chị H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Anh Từ Văn S có mặt, trình bày: Anh đồng ý ly hôn chị H. Sau khi nghe hội đồng xét xử giải thích về cấp dưỡng nuôi con chung anh đề nghị buộc chị H cấp dưỡng nuôi 02 con chung cho anh với mức cấp dưỡng là 2.000.000 đồng/ 01 tháng/ 01 cháu. Anh không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, công nợ chung.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị H, anh S và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn có mặt tại phiên tòa nên đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ninh Thị H; xử:
- Về hôn nhân: chị Ninh Thị H được ly hôn anh Từ Văn S.
- Về con chung: Giao cháu Từ Huy K, Từ Linh Đ cho anh Từ Văn S là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc chị Ninh Thị H phải cấp dưỡng nuôi con chung cho anh S với mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng/01 tháng/ 01 cháu. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 3/2025 đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị H, anh S không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Chị Ninh Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ tranh chấp: chị H khởi kiện xin ly hôn anh S và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: chị H hiện đang lao động tại Cộng hòa Síp. Anh S là bị đơn hiện đang tạm trú tại tỉnh Bắc Giang. Vì vậy, đây là vụ án có một bên đương sự ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn.
- Về hôn nhân: chị Ninh Thị H và anh Từ Văn S kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 18/7/2013 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên chị đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Từ Văn S.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H với anh S, Hội đồng xét xử thấy: chị H, anh S đều xác định vợ chồng được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn. Sau kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận. Năm 2023 chị H đi lao động tại Cộng hòa Síp, sau đó một thời gian vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, từ tháng 5/2024 đến nay không còn liên lạc với nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, nuôi con. Mặc dù anh, chị đã được hai bên gia đình hàn gắn tình cảm nhưng không được. Do đó, Hội đồng xét xử xác định chị H, anh S không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H với anh S là phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân.
- Về nuôi con chung: chị H, anh S có 02 con chung là cháu Từ Huy K, sinh ngày 19/4/2014 và cháu Từ Linh Đ, sinh ngày 09/9/2017. Hiện nay các cháu Đg sinh sống cùng anh S. Sau ly hôn chị H, anh S đều đề nghị giao 02 con chung cho anh S là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Xét yêu cầu giao nuôi con chung sau ly hôn của chị H, anh S, Hội đồng xét xử thấy: Chị H, anh S đều yêu cầu Tòa án giao cháu K, cháu Đ cho Sơn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn. Yêu cầu này của chị H, anh S phù hợp với nguyện vọng của các con chung. Trên thực tế các con chung đang sinh sống cùng anh S, các cháu phát triển ổn định cả về thể chất lẫn tinh thần. Chị H hiện đang lao động tại Cộng hòa Síp nên cũng không đảm bảo việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Do đó để đảm bảo sự phát triển của trẻ nhỏ về mọi mặt, Hội đồng xét xử căn cứ tình hình thực tế, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H, anh S về việc giao cháu K, cháu Đ cho anh S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn.
Sau khi ly hôn chị Ninh Thị H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Trường hợp chị Ninh Thị H có nguyện vọng thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên, anh S là bị đơn có yêu cầu Tòa án buộc chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung cho anh S với mức 2.000.000 đồng/ 01 tháng/ 01 cháu.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán tối cao; Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ, Hội đồng xét xử xác định mức cấp dưỡng chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung cho anh S hàng tháng không thấp hơn 2.205.000 đồng/ 01 tháng/ 01 cháu. Tuy nhiên, tại phiên tòa sau khi nghe giải thích anh S vẫn giữ nguyên yêu cầu cấp dưỡng mức 2.000.000 đồng/ 01 tháng/ 01 cháu nên căn cứ Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của anh S.
- Về tài sản, công nợ chung: Chị H, anh S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Chị Ninh Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
Về án phí cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Ninh Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
- Về quyền kháng cáo:
Theo Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự, chị H đang lao động tại nước ngoài không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, anh S có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán tối cao; Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H.
- Về hôn nhân: Chị Ninh Thị H được ly hôn anh Từ Văn S.
- Về con chung: Giao cháu Từ Huy K, sinh ngày 19/4/2014, cháu Từ Linh Đ, sinh ngày 09/9/2017 cho anh Từ Văn S là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, chị Ninh Thị H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Buộc chị Ninh Thị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung cháu K, cháu Đ cho anh Từ Văn S 2.000.000đồng/01 tháng/01 cháu. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 3/2025 đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí: Chị Ninh Thị H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000075 ngày 07/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Ninh Thị H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Chị Ninh Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quyền kháng cáo bản án:
Chị Ninh Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Anh Từ Văn S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30- Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Thông |
Bản án số 75/2025/HNGĐ-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 75/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ban an HNGD giau chi Ninh Thi H va anh Tu Van S
