TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2025/HNGĐ-ST
Ngày 16 - 6 - 2025
V/v “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị N
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công D
Bà Trần Thị Mộng T
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Cao T - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn L - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 128/2025/TLST-DS ngày 25/3/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1981. Địa chỉ: Tổ B, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1978. HKTT: Tổ 33/237 Ô3, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Địa chỉ hiện nay: Tổ 26/15, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phương trình B:
Năm 2006, tôi và ông Phạm Ngọc T quen biết nhau. Sau một thời gian tìm hiểu thì chúng tôi phát sinh tình cảm và muốn gắn bó lâu dài với nhau nên đã chuyển về sống chung với nhau như vợ chồng. Tuy nhiên đến năm 2024 thì chúng tôi mới đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 197/2024 ngày 16/9/2024. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc.
Thời gian đầu chúng tôi chung sống hoà thuận, hạnh phúc nhưng sau này bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T thường xuyên nhậu nhẹt, bạo lực gia đình, chửi mắng con riêng của tôi nên cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung. Mặc dù tôi đã cho ông T cơ hội sửa chữa nhưng ông T không thay đổi nên mâu thuẫn giữa hai người càng ngày càng trầm trọng. Nay nhận thấy tình cảm dành cho nhau không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên tôi khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- + Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Ngọc T.
- + Về con chung: Tôi và ông Phạm Ngọc T có 01 con chung là cháu Phạm Ngọc H, sinh ngày 22/02/2008. Sau khi ly hôn thì tôi đề nghị giao cháu H cho tôi trực tiếp nuôi dưỡng, tôi không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con.
- + Về tài sản chung, nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn ông Phạm Ngọc T vắng mặt không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án và không ai cung cấp tài liệu chứng cứ gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phát biểu quan điểm như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1 Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Theo nội dung đơn khởi kiện, bà Nguyễn Thị P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Phạm Ngọc T nên xác định đây là “Tranh chấp về ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Phạm Ngọc T có hộ khẩu thường trú tại tổ C, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và hiện đang sống tại tổ B, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
2 Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Phạm Ngọc T đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do và không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan nên căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự thì Toà án tiến hành xét xử vắng mặt họ.
3 Xét đơn xin ly hôn của bà Nguyễn Thị P, Hội đồng xét xử thấy:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị P và ông Phạm Ngọc T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận kết hôn số 197/2024 ngày 16/9/2024. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Bà P xác nhận thời gian đầu hai người chung sống hoà thuận, hạnh phúc nhưng sau này bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông T thường xuyên nhậu nhẹt, bạo lực gia đình, chửi mắng con riêng của bà P nên cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn. Bà P đã nhiều lần cho ông T cơ hội sửa chữa nhưng ông T không thay đổi nên mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng trầm trọng và không tìm được tiếng nói chung. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa ông T và bà P là có thật và những mâu thuẫn này xuất phát từ quá trình chung sống dẫn đến tình cảm gia đình rạn nứt. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập làm việc, thông báo hoà giải, quyết định xét xử...vv cho ông T nhưng ông T không lên Toà làm việc và cũng không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà P. Vì vậy, xác định mâu thuẫn giữa bà P và ông T là trầm trọng, tình cảm vợ chồng hiện nay không còn và mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P đối với ông T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[3.2] Về con chung:
Bà Nguyễn Thị P xác nhận trong thời gian chung sống vợ chồng thì bà P và ông T có 01 con chung là cháu Phạm Ngọc H, sinh ngày 22/02/2008. Khi ly hôn, bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H và không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, hiện nay cháu H đang sống cùng bà P và mong muốn của cháu H là sẽ được tiếp tục sống cùng mẹ. Do đó, để bảo đảm cho sự ổn định trong cuộc sống, giúp cháu phát triển tốt về tinh thần lẫn thể chất thì Hội đồng xét xử giao cháu H cho bà P tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà P không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi cháu H nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung:
Do bà Nguyễn Thị P không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án thì nguyên đơn bà P phải chịu án phí theo quy định. Ông T không phải chịu.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P về việc “Ly hôn” đối với ông Phạm Ngọc T.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị P được ly hôn với ông Phạm Ngọc T.
- - Về con chung: Tiếp tục giao cháu Phạm Ngọc H, sinh ngày 22/02/2008 cho bà Nguyễn Thị P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi trưởng thành. Ông Phạm Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Phạm Ngọc T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể xem xét quyết định việc hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002325 ngày 25/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Bà P đã nộp đủ án phí.
Ông Phạm Ngọc T không phải chịu án phí sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/6/2025) lên Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đối với ông Phạm Ngọc T thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Ngân |
Bản án số 75/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 75/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị P yêu cầu ly hôn Phạm Ngọc T
