TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 04-11-2025
V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Xuân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Văn Hợp
- Ông Nguyễn Văn Kiện
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Như Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 – An Giang.
Ngày 04 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2025, về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2025/QĐXX-ST ngày 16 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 52/2025/QĐST-DS ngày 06 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lâm Thị Bé T, sinh năm 1990 (Có mặt)
- Bị đơn: Anh Đinh Nhựt K, sinh năm 1986 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã C, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: Khu phố M, xã C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lâm Thị Bé T trình bày:
Về hôn nhân: Vào năm 2008, chị Lâm Thị Bé T và anh Đinh Nhựt K quen biết và tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn M, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 19-8-2008. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau và anh K dùng bạo lực với chị T. Ngoài ra, anh K còn không tôn trọng cha mẹ chị T. Chị T và anh K đã sống ly thân từ năm 2011 cho đến nay.
Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh K.
Về con chung: Chị Lâm Thị Bé T và anh Đinh Nhựt K có 02 con chung tên Đinh Minh T1, sinh ngày 12-3-2008 và Đinh Minh T2, sinh ngày 17-4-2010, chị T đồng ý giao 02 con chung cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lâm Thị Bé T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Đinh Nhựt K: Không có ý kiến bằng văn bản theo Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và cũng không có mặt theo giấy triệu tập làm việc, Thông báo phiên họp và Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án.
Tại phiên tòa anh K vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghị án, Toà án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Đinh Nhựt K chưa có ý kiến xác nhận theo đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Lâm Thị Bé T, Toà án đã làm đầy đủ thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh K vẫn vắng mặt không lý do. Tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xử vắng mặt bị đơn. Do vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Thị Bé T và anh Đinh Nhựt K chung sống với nhau vào năm 2008 trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và được UBND thị trấn M, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 19-8-2008, đây là hôn nhân hợp pháp.
[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Lâm Thị Bé T: Vợ chồng chị Lâm Thị Bé T và anh Đinh Nhựt K không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau nữa, thể hiện qua lời trình bày của chị T tại Toà án: Chị T và anh K có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên cãi nhau và anh K dùng bạo lực với chị T. Mặt khác, chị T và anh K đã sống ly thân từ năm 2011 cho đến nay mà vẫn không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Toà án xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh K đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của chị T xin ly hôn với anh K là có căn cứ để chấp nhận.
[4] Về con chung: Chị Lâm Thị Bé T và anh Đinh Nhựt K có 02 con chung tên Đinh Minh T1, sinh ngày 12-3-2008 và Đinh Minh T2, sinh ngày 17-4-2010, hiện nay đang sống chung với anh K. Chị T đồng ý giao con chung cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, từ thời gian chị T và anh K sống ly thân cho đến nay, cháu Đinh Minh T1 và Đinh Minh T2 vẫn do một mình anh K chăm sóc, nuôi dưỡng. Bên cạnh đó, các cháu cũng có nguyện vọng được ở với cha. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Đinh Minh T1 và Đinh Minh T2 cho anh K tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Đinh Nhựt K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không gửi văn bản ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không tiến hành hòa giải việc cấp dưỡng nuôi con giữa chị T và anh K được. Vì vậy, về phần cấp dưỡng nuôi con Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này anh K có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập anh K đúng theo quy định pháp luật nhưng anh K vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, Toà án không tiến hành hoà giải, đối chất về tài sản chung và nợ chung giữa anh K và chị T được. Mặt khác, tại Toà án cũng như tại phiên toà chị T xác nhận trong thời gian chung sống cùng anh K, anh chị không tạo lập được tài sản gì và cũng không có nợ ai. Cho nên về phần tài sản chung và nợ chung Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.
[7] Về án phí: Chị T là nguyên đơn trong vụ án, do đó chị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng theo quy định tại Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án và tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025;
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lâm Thị Bé T. Cho chị Lâm Thị Bé T được ly hôn với anh Đinh Nhựt K.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Đinh Minh T1, sinh ngày 12-3-2008 và cháu Đinh Minh T2, sinh ngày 17-4-2010 cho anh Đinh Nhựt K trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Lâm Thị Bé T phải nộp 300.000 đồng nhưng chị T được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0016408 ngày 14-7-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang, chị T không phải nộp thêm.
- Quyền kháng cáo: Chị Lâm Thị Bé T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đinh Nhựt K vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Chị Lâm Thị Bé T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Xuân |
Bản án số 75/2025/HNGĐ-ST ngày 04/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 75/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: * Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lâm Thị Bé T đối với anh Đinh Nhựt K
