|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 75/2025/HNGĐ-ST Ngày: 03/4/2025 Về việc: “Tranh chấp ly hôn”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bảy.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kim Chi
2. Ông Trần Văn Chánh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duyên- Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2381/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2024; Quyết định Hoãn phiên tòa số 93/2025/QÐST- HNGĐ ngày 07/3/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Anh T, sinh năm 1993
Địa chỉ: 4, khu phố G, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Bị đơn: ông Làu Phương A, sinh năm 1995
Địa chỉ: 4, khu phố G, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bà T, ông A vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/10/2024 bản tự khai nguyên đơn bà Trần Thị Anh T trình bày:
Bà và ông Làu Phương A tự nguyện kết hôn năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình chung sống, bà và ông A thường xuyên xảy ra mâu thuẫn về vấn đề tình cảm và bất đồng quan điểm sống, thường hay cãi nhau, nhiều lần hàn gắn nhưng không thành.
Nay bà T thấy không thể tiếp tục chung sống với ông A, tình trạng hôn nhân trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, bà làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông A.
Về con chung: Bà Trần Thị Anh T và ông Làu Phương A có 02 con chung, là các cháu Làu Phương Hạo T1, sinh ngày 13/10/2017, cháu Làu Phương Mẫn N, sinh ngày 02/9/2020. Bà T và ông A ly hôn bà xin được chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu Làu Phương H và cháu Làu Phương Mẫn N, bà yêu cầu ông Làu Phương A cấp dưỡng nuôi 02 (hai) con chung 4.000.000 đồng/tháng (Bốn triệu đồng/tháng). Mỗi cháu 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi các cháu trưởng thành và có khả năng lao động.
Về tài sản chung: Đương sự khai tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Đương sự khai không có.
* Bị đơn ông Làu Phương A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc, không cung cấp bản tự khai nên không có lời khai.
* Ý kiến của Kiểm sát viên: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông A đã trầm trọng, đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T. Về con chung: Bà Trần Thị Anh T và ông Làu Phương A có 02 con chung, là các cháu Làu Phương Hạo T1, sinh ngày 13/10/2017, cháu Làu Phương Mẫn N, sinh ngày 03/9/2020. Bà T và ông A ly hôn bà xin được chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu Làu Phương H và cháu Làu Phương Mẫn N, bà yêu cầu ông Làu Phương A cấp dưỡng nuôi con chung 4.000.000 đồng/tháng (Bốn triệu đồng/tháng). Mỗi cháu 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi các cháu trưởng thành và có khả năng lao động. Về tài sản chung: Đương sự khai tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết. Về nợ chung: Đương sự khai không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: bị đơn ông Làu Phương A có địa chỉ: 4, khu phố G, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
[2] Về thủ tục tố tụng: bà T có đơn xin vắng mặt, ông A đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai tại phiên toà không có lý do nên Tòa án mở phiên tòa xét xử là đúng quy định.
[3]Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông A kết hôn trên cơ sở tự nguyện năm 2016, được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 157 ngày 15/8/2016 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, nên được xác nhận là hôn nhân hợp pháp.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà T và ông A là có thật, ông A được Tòa án triệu tập đến Tòa án nhiều lần nhưng vắng mặt, thể hiện sự bỏ mặc, không quan tâm đến việc hàn gắn cùng bà T. Tòa án đã thuyết phục nhưng bà T cương quyết xin ly hôn vì cho rằng không còn tình cảm với ông A, vợ chồng nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả.
Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà T và ông A đã rạn nứt, mục đích hôn nhân không đạt, yêu cầu xin ly hôn của bà T là có cơ sở, nên chấp nhận.
Về con chung: Bà Trần Thị Anh T và ông Làu Phương A có 02 con chung, là các cháu Làu Phương Hạo T1, sinh ngày 13/10/2017, cháu Làu Phương Mẫn N, sinh ngày 03/9/2020. Bà T và ông A ly hôn bà xin được chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu Làu Phương H và cháu Làu Phương Mẫn N, bà yêu cầu ông Làu Phương A cấp dưỡng nuôi 02 (hai) con chung 4.000.000 đồng/tháng (Bốn triệu đồng/tháng). Mỗi cháu 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi các cháu trưởng thành và có khả năng lao động.
Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Làu Phương Hạo T1, sinh ngày 13/10/2017 có nguyện vọng được cùng ở với mẹ; còn cháu Làu Phương Mẫn N, sinh ngày 03/9/2020 hiện nay cháu N vẫn sống cùng với mẹ. Bà T có đề nghị được chăm sóc nuôi dưỡng các cháu và yêu cầu ông Làu Phương A cấp dưỡng nuôi 02 (hai) con chung 4.000.000 đồng/tháng (Bốn triệu đồng/tháng). Mỗi cháu 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi các cháu trưởng thành và có khả năng lao động, xét thấy yêu cầu của bà T có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung: Đương sự khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nội dung này không có lời trình bày của ông A, nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi các bên có đơn yêu cầu.
Về nợ chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nội dung này không có lời trình bày của ông A, nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi các bên có đơn yêu cầu.
Bà T phải nộp án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228; Điều 266, 271, 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 40 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986.
Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 71, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 9, 11,12 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2000;
Áp dụng Điều 6; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu “Ly hôn” của bà Trần Thị Anh T.
1.Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị Anh T được ly hôn với ông Làu Phương A.
2. Về con chung: Bà Trần Thị Anh T và ông Làu Phương A có 02 con chung, là các cháu Làu Phương Hạo T1, sinh ngày 13/10/2017, cháu Làu Phương Mẫn N, sinh ngày 03/9/2020. Giao bà T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu Làu Phương Hạo T1 và cháu Làu Phương Mẫn N. Ông Làu Phương A có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi 02 (hai) con chung 4.000.000 đồng/tháng (Bốn triệu đồng/tháng). Mỗi cháu 2.000.000 đồng/tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi các con chung đủ 18 (Mười tám) tuổi và có khả năng lao động.
Ông Làu Phương A không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Bà Trần Thị Anh T trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu thayu đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo pháp luật quy định.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về tài sản chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nội dung này không có lời trình bày của ông A, nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi các bên có đơn yêu cầu.
Về nợ chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nội dung này không có lời trình bày của ông A, nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi các bên có đơn yêu cầu.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về án phí: Bà Trần Thị Anh T tự nguyện chịu 150.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và 150.000 đồng án phí cấp dưỡng. Được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004211 ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà Trần Thị Anh T đã nộp xong.
5. Bà Trần Thị Anh T và ông Làu Phương A được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký và đóng dấu) Phạm Thị Bảy |
Bản án số 75/2025/HNGĐ-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 75/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông A
