|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 75/2025/DSST Ngày: 16/6/2025 V/v: tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1- Bà Đặng Thị Ngọc Hằng
- 2- Bà Nguyễn Thị Xuyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Linh Nhi - Cán bộ Toà án nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hường – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 11/2025/TLST-DS ngày 08 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2025/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 234/2025/QÐST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần C
Trụ sở: A T, quận H, Thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Xuân T, theo giấy ủy quyền số 138/UQ-CNBLU-TCHC ngày 09/4/2025.
(ông T có mặt)
Bị đơn: Ông Thái Nhật H, sinh năm 1989
Địa chỉ: A (trệt) K, Phường 1, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
(ông H xin vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Trách nhiệm hữu hạn S.
Địa chỉ: A L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Văn D
Địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng.
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, các bên đương sự trình bày:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần C (gọi tắt là V) có ông Trần Xuân T đại diện theo ủy quyền trình bày:
Về quan hệ tín dụng: Ông Thái Nhật H vay vốn tại V - Chi nhánh B theo Hợp đồng cho vay số 216/2021-HĐCV/NHCT704 ngày 26/07/2021, trong đó một số nội dung chính:
- + Số tiền vay: 7.000.000.000 đồng;
- + Thời hạn cho vay: 240 tháng (đến ngày 09/08/2041);
- + Mục đích sử dụng tiền vay: thanh toán chi phí đã ứng vốn chủ sở hữu để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại địa chỉ thửa đất số 434, tờ bản đồ số 44 thuộc xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh nhằm phục vụ nhu cầu đời sống.
- + Lãi suất: Điều chỉnh, tại thời điểm giải ngân là 9% (Chương trình “Lãi suất ưu đãi, vững chãi tương lai");
Thực hiện nêu trên, V - Chi nhánh B đã giải ngân cho ông Thái Nhật H số tiền 7.000.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 10/08/2021.
Về quan hệ bảo đảm tiền vay: Toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của ông Thái Nhật H được bảo đảm bằng tài sản thuộc quyền sử dụng, quyền sở hữu của ông Thái Nhật H là Quyền sử dụng đất thửa số 648, TBĐ số 3, diện tích 4.491m² tại xã A, huyện C, TP H (GCN QSDĐ số V 876549, vào số cấp GCN QSDĐ số: 362.QSDĐ/CQ do UBND huyện C cấp ngày 30/08/2002, theo Hợp đồng thế chấp số 133/2021/HĐBĐ/NHCT704 ngày 12/05/2021 (số công chứng 002007, quyển số 01/2021TP/CC- SCC/HĐGD ngày 12/05/2021 tại Văn phòng C1, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 12/05/2021 tại Văn phòng đăng ký Đất đai huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh) và Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp số 133/2021/HĐBĐ/NHCT704-SÐL01 ngày 22/07/2021 (số Công chứng 002815, quyển số 01/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/07/2021 tại Văn phòng C1, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 11/10/2023 tại Văn phòng đăng ký Đất đai huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh).
Trong quá trình thực hiện quan hệ tín dụng, ông Thái Nhật H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ (lãi + gốc) từ kỳ trả nợ ngày 11/06/2022, và toàn bộ khoản nợ vay của ông Thái Nhật H đã chuyển sang nợ quá hạn. Mặc dù V Chi nhánh B đã nhiều lần yêu cầu bên vay (đồng thời là bên bảo đảm) thực thi các nghĩa vụ của mình, khắc phục vi phạm, ông H có cam kết nhưng vẫn không thực hiện, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của V.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu:
- Buộc bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc, nợ lãi (lãi trong hạn, lãi quá hạn) và các khoản phí, chi phí phát sinh, các khoản hoàn trả (nếu có) theo Hợp đồng cho vay số 216/2021-HĐCV/NHCT704 ngày 26/07/2021, với số tiền tạm tính đến ngày 09/4/2025 là 9.061.800.039 đồng, bao gồm:
- + Nợ gốc: 6.737.200.000 đồng;
- + Nợ lãi: 2.324.600.039 đồng, trong đó: Lãi trên nợ gốc (lãi trong hạn): 2.242.607.092 đồng; Lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn (Lãi quá hạn): 81.992.947 đồng.
- Các khoản lãi, phí, chi phí khác còn tiếp tục phát sinh sau ngày tạm tính trên, theo lãi suất quá hạn quy định tại HĐCV, cho đến khi V thu hồi hết toàn bộ khoản nợ;
- Tuyên nếu bị đơn không thực hiện và/hoặc thực hiện không đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì nguyên đơn được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất tại thửa số 648, tờ bản đồ số 3, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Hợp đồng thế chấp số 133/2021/HĐBĐ/NHCT704 ngày 12/05/2021 (và Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp số 133/2021/HĐBĐ/NHCT704-SÐL01 ngày 22/07/2021) để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật;
- Tuyên bị đơn tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ ngân hàng trong trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho nguyên đơn.
Bị đơn ông Thái Nhật H trình bày:
Ông xác nhận có vay và thế chấp tài sản như nguyên đơn trình bày.
Hiện nay ông còn nợ tính đến ngày 09/4/2025 là 9.061.800.039 đồng, bao gồm:
- + Nợ gốc: 6.737.200.000 đồng;
- + Nợ lãi: 2.324.600.039 đồng, trong đó: Lãi trên nợ gốc (lãi trong hạn): 2.242.607.092 đồng; Lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn (Lãi quá hạn): 81.992.947 đồng.
Nay do kinh tế gặp khó khăn nên ông đồng ý xử lý tài sản thế chấp để trả nợ cho Ngân hàng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Công ty Trách nhiệm hữu hạn S:
Vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 phát biểu quan điểm: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp và thụ lý đúng thẩm quyền. Quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa hôm nay thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định pháp luật tố tụng, các đương sự đã chấp hành đúng theo qui định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung, căn cứ thỏa thuận của hợp đồng tín dụng hai bên ký kết phù hợp quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại Cổ phần C khởi kiện ông Thái Nhật H yêu cầu thanh toán nợ từ hợp đồng tín dụng nên đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại Quận C nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3.
[2] Bị đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện: Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[4] Căn cứ vào Hợp đồng cho vay số 216/2021-HĐCV/NHCT704 ngày 26/07/2021 có ký tên người đại diện và đóng dấu của V và ông Thái Nhật H, nội dung là V cấp tín dụng cho ông Thái Nhật H. Hợp đồng giao kết đúng theo quy định pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của hai bên. Thực hiện thỏa thuận, V đã giải ngân số tiền vay là 7.000.000.000 đồng, tuy nhiên ông H vi phạm thời hạn thanh toán.
[4.1] Trong quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai và biên bản hòa giải, ông H cũng thừa nhận còn nợ số tiền gốc là 6.737.200.000 đồng như nguyên đơn yêu cầu.
[4.2] Căn cứ Điều 6 phần I, Điều 9 phần II của hợp đồng tín dụng, V yêu cầu ông H thanh toán toàn bộ số nợ gốc của hợp đồng tín dụng nêu trên với tổng số tiền là 6.737.200.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[5] Về lãi suất:
[5.1] Căn cứ Điều 2 phần I; Điều 3 phần II của hợp đồng tín dụng thể hiện mức lãi suất trong hạn thỏa thuận giao động từ 9%/năm đến 13%/năm. Ông H có nghĩa vụ thanh toán lãi trong hạn trên nợ gốc nhưng không thực hiện. Tổng số tiền nợ lãi trong hạn là 2.384.734.325 đồng.
[5.2] Ngoài ra, do ông H vi phạm thời hạn thanh toán nên V đã chuyển toàn bộ số nợ sang nợ quá hạn, mức lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, ông H có nghĩa vụ phải thanh toán cho V tính đến ngày 16/6/2025 số tiền lãi quá hạn là 92.662.947 đồng.
[6] Xét hợp đồng thế chấp:
[6.1] Căn cứ Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 133/2021/HĐBĐ/NHCT704 ngày 12/05/2021, công chứng số 002007 tại Văn phòng C1 (và Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp số 133/2021/HĐBĐ/NHCT704-SÐL01 ngày 22/07/2021, công chứng số 002815 tại Văn phòng C1) thể hiện ông Thái Nhật H đã dùng tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 648, tờ bản đồ số 3, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 876549, vào số cấp giấy 362.QSDĐ/CQ do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 30/08/2002, cập nhật chủ sở hữu cho ông Thái Nhật H ngày 10/05/2021 để thế chấp cho khoản vay trên của ông H, và đảm bảo cho khoản vay của Công ty Trách nhiệm hữu hạn S.
[6.2] Việc thế chấp này đã được đăng ký giao dịch đảm bảo theo quy định của pháp luật tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 12/5/2021.
[6.3] Hợp đồng thế chấp đều được công chứng và tài sản đã được đăng ký giao dịch đảm bảo đúng theo quy định pháp luật nên hợp đồng này là hợp pháp. Do ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng nên Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ khi ông H không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Tòa án đã triệu tập Công ty Trách nhiệm hữu hạn S để xem xét quyền lợi nhưng không có mặt nên không xem xét.
[8] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Thái Nhật H có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ cho nguyên đơn là 10.000.000 đồng.
[9] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo qui định tại Nghị quyết 326/2016/NQ - UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5; khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 157, khoản 2 Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 280; Điều 335, Điều 336, Điều 338, Điều 351; Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần C:
Buộc ông Thái Nhật H có nghĩa vụ trả ngay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần C tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 16/6/2025 là 9.214.597.272 đồng (chín tỷ hai trăm mười bốn triệu năm trăm chín mươi bảy ngàn hai trăm bảy mươi hai đồng), trong đó vốn gốc là 6.737.200.000 đồng, lãi trong hạn là 2.384.734.325 đồng, lãi quá hạn là 92.662.947 đồng, phát sinh từ Hợp đồng cho vay số 216/2021-HĐCV/NHCT704 ngày 26/07/2021 ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần C với ông Thái Nhật H.
Ông Thái Nhật H còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng cấp tín dụng kể từ ngày 17/6/2025 đến ngày trả hết nợ.
Trường hợp ông Thái Nhật H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần C có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm sau đây để thu hồi nợ:
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 133/2021/HĐBĐ/NHCT704 ngày 12/05/2021, công chứng số 002007 tại Văn phòng C1 (và Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp số 133/2021/HĐBĐ/NHCT704-SĐL01 ngày 22/07/2021, công chứng số 002815 tại Văn phòng C1), thuộc sở hữu của ông Thái Nhật H tại thửa số 648, tờ bản đồ số 3, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 876549, vào số cấp giấy 362.QSDĐ/CQ do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 30/08/2002. Đăng ký giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 12/5/2021.
Trường hợp việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho nguyên đơn thì bị đơn vẫn có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ ngân hàng đến khi thực hiện xong nghĩa vụ.
-
Về án phí: Ông Thái Nhật H phải chịu 117.214.597 đồng (một trăm mười bảy triệu hai trăm mười bốn ngàn năm trăm chín mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
H1 lại số tiền tạm ứng án phí là 58.363.723 đồng (năm mươi tám triệu ba trăm sáu mươi ba ngàn bảy trăm hai mươi ba đồng) cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần C theo Biên lai tạm ứng án phí số 0059478 ngày 08/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3
-
Về chi phí tố tụng: Ông Thái Nhật H có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần C số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
-
Về quyền kháng cáo:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần C được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Thái Nhật H, Công ty Trách nhiệm hữu hạn S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thủy |
Bản án số 75/2025/DSST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 75/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
