Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2025/DS-ST

Ngày: 30 - 5 - 2025.

V/v tranh chấp về hụi.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Văn Thị Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Xuân Tạo;

Ông Lê Hữu Tấn.

- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Thuỷ – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 711/2024/TLST-DS ngày 18/11/2024 về việc: “Tranh chấp về hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2025/QĐXXST-DS ngày 22/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2025/QĐST-DS ngày 13/5/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1981; địa chỉ thường trú: Tổ G, ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Có mặt

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1990; địa chỉ thường trú: Tổ H, ấp B, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:

Bà Nguyễn Thị L và bà Nguyễn Thị Thu H có mối quen hệ quen biết cùng xóm. Bà H có làm chủ hụi cho bà con quanh khu vực. Trong quá trình làm chủ hụi, bà H nhiều lần rủ bà L chầu hụi khi hụi viên có nhu cầu hốt hụi (nghĩa là người thứ hai trong dây hụi muốn hốt) và bà L đồng ý. Từ tháng 6/2023 đến tháng 3/2024 bà L tham gia chầu 04 chân hụi của bà H, gồm:

- Ngày 25/6/2023 là dây hụi loại 2.000.000 đồng, bà L chầu số tiền 20.100.00 đồng, có nghĩa bà L đưa cho bà H số tiền 20.100.000 đồng này cho bà H, sau này tùy theo thời điểm mà bà L nhận lại số tiền khác nhau;

- Ngày 20/12/2023 là dây hụi loại 2.000.000 đồng bà L chầu số tiền 12.500.000 đồng, có nghĩa bà L đưa cho bà H số tiền 12.500.000 đồng cho bà H;

- Ngày 18/02/2024 là dây hụi loại 2.000.000 đồng, bà L chầu số tiền 16.600.000 đồng, có nghĩa bà L đưa cho bà H số tiền 16.600.000 đồng;

- Ngày 10/3/2024 là dây hụi loại 2.000.000 đồng, bà L chầu số tiền 16.090.000 đồng, có nghĩa bà L đưa cho bà H số tiền 16.090.000 đồng.

Tổng số tiền chầu hụi bà L đã giao cho bà H là 65.290.000 đồng. Những lần bà H nhận tiền chầu hụi từ bà L thì đều có viết giấy xác nhận nhận tiền, ký ghi rõ họ tên và giao giấy này cho bà L giữ.

Ngoài ra bà L còn chơi một dây hụi loại 2.000.000 đồng, gồm 22 phần, với bà H, kỳ mở hụi ngày đầu ngày 20/6/2023, bà L đã đóng hụi sống được 10 kỳ với tổng số tiền 12.000.000 đồng. Việc chơi hụi này không có giấy tờ gì.

Tổng số tiền hụi bà L đã đưa cho bà H là 77.290.000 đồng. Bà L xác định bà L chỉ giao tiền hụi theo hình thức tiền mặt cho bà H. Bà L không biết những người chơi hụi chung trong các dây hụi trên là ai nên không thể cung cấp thông tin những người chơi hụi chung này cho Tòa án. Sau đó, bà H thông báo bể hụi, không còn tiền trả cho bà L. Bà L có liên hệ yêu cầu bà H trả tiền hụi cho bà L thì bà H trốn tránh trong nhà, không chịu trả tiền cho bà L. Bà L có liên hệ với chồng bà H thì chồng bà H nói không biết việc chơi hụi của vợ nên không liên quan. Do đó, bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Thu H phải có nghĩa vụ trả cho bà L số tiền hụi 77.290.000 đồng (bảy mươi bảy triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng). Ngoài ra, nguyên đơn không còn yêu cầu hay ý kiến nào khác.

* Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H trình bày: Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên hòa giải, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập, vắng mặt không có lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

* Tại phiên toà:

- Nguyên đơn trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Thu H phải có nghĩa vụ trả cho bà L số tiền hụi 77.290.000 đồng, trong đó số tiền chầu hụi của 04 dây hụi là 65.290.000 đồng, số tiền hụi là 12.000.000 đồng. Tuy nhiên tại phiên tòa, bà L xác định trong số tiền 12.000.000 đồng bà L chơi hụi với bà H thì có 6.000.000 đồng là bà L đóng tiền hụi, còn 6.000.000 đồng là tiền lời theo thỏa thuận chơi hụi. Bà L xác định ngoài những tài liệu, chứng cứ đã nộp cho Tòa án thì bà L không còn tài liệu, chứng cứ nào cung cấp cho Tòa án. Ngoài ra, bà L không còn yêu cầu hay ý kiến nào khác.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H vắng mặt.

* Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên toà:

- Về tố tụng: Việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ là đúng theo quy định, những người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận một phần đối với số tiền chầu hụi 65.290.000 đồng, còn đối với số tiền hụi 12.000.000 đồng thì không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bị đơn trả lại số tiền hụi 77.290.000 đồng (bảy mươi bảy triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng). Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là tranh chấp về hụi theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[1.2] Thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có địa chỉ thường trú và hiện đang sinh sống tại địa chỉ: Tổ H, ấp B, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.3] Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H đã được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Bị đơn vắng mặt nhưng cũng không có văn bản ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng, không cung cấp tài liệu, chứng cứ cũng như văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện cho Tòa án. Do đó, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L cho rằng từ tháng 6/2023 đến tháng 3/2024 nguyên đơn tham gia chơi hụi với bị đơn theo 02 hình thức là chầu hụi và chơi hụi, theo đó: Đối với việc chầu hụi thì nguyên đơn tham gia chầu 04 chân hụi và giao cho bị đơn tổng số tiền 65.290.000 đồng (sáu mươi lăm triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng). Đối với chơi hụi thì trong quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày là đã đóng cho bị đơn 10 kỳ với tổng số tiền hụi 12.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại

phiên tòa nguyên đơn lại trình bày là đối với việc chơi hụi thì nguyên đơn đóng được 05 kỳ với số tiền đóng mỗi kỳ khoảng 1.200.000 đồng – 1.300.000 đồng, tổng số tiền thực tế đóng hụi là 6.000.000 đồng, còn 6.000.000 đồng còn lại là tiền lời nếu thực tế nguyên đơn được hốt hụi. Chứng cứ nguyên đơn cung cấp chứng minh số tiền chầu hụi là: Giấy viết tay có tiêu đề “Hụi 2000.000/25/6/2023 20 phần chết 6 phần”; Giấy viết tay có tiêu đề “Khui hụi 10/3/2024 hụi 2000.000 19 phần chết 2”; Giấy viết tay có tiêu đề “Khui hụi 18/2/2024 22 phần hụi 2000.000”; Giấy viết tay có tiêu đề “Hụi 2000.000/20/12/2023 15 phần”.

[2.1] Đối với số tiền chầu hụi 65.290.000 đồng (sáu mươi lăm triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng):

Xét, nguyên đơn trình bày rằng 04 Giấy viết tay có tiêu đề “Khui hụi 10/3/2024 hụi 2000.000 19 phần chết 2”; Giấy viết tay có tiêu đề “Khui hụi 18/2/2024 22 phần hụi 2000.000”; Giấy viết tay có tiêu đề “Hụi 2000.000/20/12/2023 15 phần” nêu trên là do bị đơn bà H tự viết xác nhận mỗi khi nguyên đơn giao tiền cho bị đơn. Ngày 19/02/2025, Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định chữ ký tên và chữ viết họ tên và chữ viết trên 04 Giấy viết tay có tiêu đề “Hụi 2000.000/25/6/2023 20 phần chết 6 phần”; Giấy viết tay có tiêu đề “Khui hụi 10/3/2024 hụi 2000.000 19 phần chết 2”; Giấy viết tay có tiêu đề “Khui hụi 18/2/2024 22 phần hụi 2000.000” và Giấy viết tay có tiêu đề “Hụi 2000.000/20/12/2023 15 phần” nêu trên. Ngày 09/3/2025, Phòng K - Công an tỉnh B có Kết luận giám định số 996/KL-KTHS(TL) xác định: Chữ ký, chữ viết họ tên “Nguyễn Thị Thu H” và chữ viết nội dung trên 04 tờ giấy kẻ ô ly (loại tập học sinh) nhãn hiệu “Hòa Bình”, “Tien Phat Book” có nội dung thể hiện số phần, số tiền chơi hụi, đề các ngày khui hụi – ngày giao 25/6/2023 -28/12/2023, 20/12/202 - 24/12/2023, 18/02/2024 – 23/02/2024, 10/3/2024 – 14/4/2024 (ký hiệu từ A1 đến A4) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị Thu H trên tài liệu mẫu (ký hiệu M1 đến M2) do cùng một người ký và viết ra”. Như vậy, 04 Giấy viết tay nêu trên có giá trị pháp lý chứng minh có việc chơi hụi theo hình thức chầu hụi giữa nguyên đơn và bị đơn cũng như việc nguyên đơn đã giao cho bị đơn tổng số tiền chầu hụi là 65.290.000 đồng.

Ngoài ra, để chứng minh cho việc có chơi hụi theo hình thức chầu hụi thì nguyên đơn có cung cấp hình chụp các tin nhắn trên mạng xã hội Zalo giữa nguyên đơn và tài khoản có tên “Ha Nguyen”. Nguyên đơn xác định đây là tài khoản mạng xã hội Zalo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H. Nhận thấy, tuy nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh đây là tài khoản mạng xã hội Zalo của bị đơn bà H nhưng căn cứ vào nội dung các tin nhắn này thì phù hợp với nội dung các 04 Giấy viết tay do nguyên đơn cung cấp cũng như phù hợp với trình bày của nguyên đơn về quá trình chầu hụi và đòi tiền chầu hụi của nguyên đơn. Do đó, có căn cứ chứng minh nội dung các tin nhắn này là giữa nguyên đơn và bị đơn.

[2.2] Đối với số tiền hụi 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng):

Nguyên đơn bà L cho rằng ngoài việc chơi chầu hụi nêu trên thì nguyên đơn còn trực tiếp tham gia một dây hụi gồm có 22 phần, loại 2.000.000 đồng mở ngày đầu ngày 20/6/2023. Trong quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày là đã đóng cho bị đơn được 10 kỳ với tổng số tiền hụi 12.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa nguyên đơn lại trình bày là đối với việc chơi hụi thì nguyên đơn đóng được 05 kỳ với số tiền đóng mỗi kỳ khoảng 1.200.000 đồng – 1.300.000 đồng, tổng số tiền thực tế nguyên đơn đóng hụi cho bị đơn là 6.000.000 đồng, còn 6.000.000 đồng còn lại là tiền lời nếu thực tế nguyên đơn được hốt hụi. Nguyên đơn đóng tiền hụi theo hình thức tiền mặt trực tiếp cho bị đơn. Nguyên đơn xác định nguyên đơn không biết những người chơi hụi còn lại trong dây hụi này với nguyên đơn là ai. Nguyên đơn xác định không có chứng cứ chứng minh việc chơi hụi này ngoài những tin nhắn mạng xã hội Zalo. Căn cứ theo bản in hình chụp tin nhắn mạng xã hội Zalo do nguyên đơn cung cấp (bút lục số 58-62) thì không có thể hiện nội dung việc nguyên đơn có chơi hụi và đóng tiền cho bị đơn đối với dây hụi 22 phần, loại 2.000.000 đồng mở ngày đầu ngày 20/6/2023 như nguyên đơn trình bày. Tại phiên tòa, nguyên đơn bà L cũng xác định không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho việc chơi hụi, đóng tiền hụi với bị đơn đối với dây hụi này.

Từ những phân tích, nhận định nêu trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ một phần đối với số tiền chầu hụi 65.290.000 đồng, không có căn cứ chấp nhận đối với số tiền hụi 12.000.000 đồng.

[2.3] Nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền gốc không yêu cầu tính tiền lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét về tiền lãi.

[3] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên có căn cứ chấp nhận.

[4] Về chi phí tố tụng khác: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí trưng cầu giám định là 3.040.000 đồng để trả lại cho nguyên đơn.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu không được chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 468 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 16; khoản 2 Điều 17; Điều 21; Điều 22; Điều 24 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L về việc: “Tranh chấp về hụi” với bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H.

Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H phải trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị L số tiền là 65.290.000 đồng (sáu mươi lăm triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày án có hiệu lực thi hành và có đơn yêu cầu thi hành án của bà Nguyễn Thị L cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bà Nguyễn Thị Thu H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L về việc: “Tranh chấp về hụi” với bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H đối với số tiền hụi 12.000.000 đồng.

3. Về chi phí tố tụng khác: Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu số tiền 3.040.000 đồng đồng (ba triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng) để trả lại cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị L.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L phải phải chịu số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.932.250 đồng (một triệu chín trăm ba mươi hai nghìn hai trăm năm mươi đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005788 ngày 11/112024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Hoàn trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị L số tiền 1.332.250 đồng (một triệu ba trăm ba mươi hai nghìn hai trăm năm mươi đồng).

Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu số tiền 3.264.500 đồng (ba triệu hai trăm sáu mươi bốn nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Văn Thị Thanh Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2025/DS-ST ngày 30/05/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương về tranh chấp về hụi

  • Số bản án: 75/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HỤI
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger