TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2025/DS-ST
Ngày: 26 - 5 - 2025
V/v: “Tranh chấp hụi”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Văn Lẫm
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Lâm Quang Sô.
Ông Lê Minh Thật.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Mi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Trong ngày 26 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 214/2024/TLST-DS, ngày 18 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hụi”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2025/QĐXXST - DS, ngày 11 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 74/2025/QÐST-DS ngày 28 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị M, sinh năm: 1967.
Địa chỉ: Ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.
2. Bị đơn: Nguyễn Thị P.
Địa chỉ: Ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 30/9/2024 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:
Vào năm 2020 bà Nguyễn Thị P có tham gia 02 dây hụi do bà làm chủ, cụ thể như sau:
Dây hụi mở ngày 9/4/2020 âm lịch, hụi 1.000.000 đồng/tháng có 25 phần, bà P tham gia 01 phần, bà P hốt lần đầu tiên. Sau khi hốt bà P có đóng hụi chết được 04 lần thì ngưng đóng. Dây hụi này bà P còn nợ 20 lần hụi chết với số tiền là 20.000.000 đồng.
Dây hụi mở ngày 15/8/2020 âm lịch, hụi 1.000.000 đồng/tháng có 30 phần, bà P tham gia 01 phần. Bà P đóng hụi sống được 02 lần đến lần thứ 03 thì hốt. Sau khi hốt bà P không có đóng hụi chết và còn nợ lại 27 lần hụi chết với số tiền 27.000.000 đồng. Ngoài ra bà P còn mượn bà số tiền 2.000.000 đồng nhưng tại phiên toà bà xin rút lại yêu cầu bà P trả số tiền 2.000.000 đồng.
Tổng cộng hai dây hụi trên bà P còn nợ hụi chết với số tiền 47.000.000 đồng. Bà đã nhiều lần yêu cầu bà P trả số tiền 47.000.000 đồng nhưng bà P chỉ hứa mà không thực hiện. Nay bà yêu cầu bà P trả số tiền hụi chết là 47.000.000 đồng.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị P đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên chưa có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị P đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt bà P.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Tranh chấp hụi” theo Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[3] Nội dung vụ án: Vào ngày 09/4/2020, 15/8/2020 âm lịch bà Nguyễn Thị M có mở 02 dây hụi 1.000.000 đồng/tháng, bà Nguyễn Thị P tham gia 02 dây hụi. Sau khi hốt hụi xong bà N không đóng đầy đủ hụi chết nên bà M khởi kiện
yêu cầu bà N trả tiền hụi chết còn nợ là 47.000.000 đồng. Còn bà P đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do.
[4] Qua thẩm vấn công khai tại phiên toà cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Dây hụi mở ngày 9/4/2020 âm lịch, hụi 1.000.000 đồng/tháng có 25 phần, bà P tham gia 01 phần, bà P hốt lần đầu tiên. Sau khi hốt bà P có đóng hụi chết được 04 lần thì ngưng đóng. Dây hụi này bà P còn nợ 20 lần hụi chết với số tiền là 20.000.000 đồng.
- Dây hụi mở ngày 15/8/2020 âm lịch, hụi 1.000.000 đồng/tháng có 30 phần, bà P tham gia 01 phần. Bà P đóng hụi sống được 02 lần đến lần thứ 03 thì hốt. Sau khi hốt bà P không có đóng hụi chết và còn nợ lại 27 lần hụi chết với số tiền 27.000.000 đồng
Tổng cộng bà P còn nợ 02 dây hụi chết với số tiền là 47.000.000 đồng.
[5] Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình bà M có cung cấp danh sách chơi hụi của bà P tại thứ tự số 17, 18 dây hụi mở ngày 09/4/2020 và thứ tự số 10 dây hụi mở ngày 15/8/2020. Toà án đã triệu tập hợp lệ bà P để làm rõ bà P có tham gia chơi hụi, số lần đóng, số lần hốt và còn nợ lại hụi chết như bà M trình bày hay không nhưng bà P vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của bà M buộc bà P có nghĩa vụ trả cho bà M số tiền hụi còn nợ là 47.000.000 đồng.
[6] Về án phí dân sự: Bà Nguyễn Thị P phải chịu 2.350.000 đồng.
[7] Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, Điều 35, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ: Điều 471, 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị P trả số tiền hụi còn nợ là 47.000.000 đồng.
Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị P có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị M số tiền hụi còn nợ là 47.000.000 đồng (bốn mươi bảy triệu đồng).
Kể từ ngày bà Nguyễn Thị M có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án. Lãi suất chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468, nếu không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thị P phải chịu 2.350.000 đồng (hai triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M được nhận lại 1.225.000 đồng (một triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010385 ngày 18/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Mỹ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 26/5/2025. Bị đơn bà Nguyễn Thị P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Lẫm |
Bản án số 75/2025/DS-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hụi
- Số bản án: 75/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nợ hụi
