Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:75/2025/DS – ST

Ngày: 18-11-2025

“ Tranh chấp quyền lưu cư trên đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐỒNG NAΙ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Luật.
  2. Bà Nguyễn Thị Quy .

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân khu vực 7 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phước - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2025 tại Hội trường xét xử A, Tòa án nhân dân khu vực 7 Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 165/2024/TLST – DS ngày 13 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp quyền lưu cư trên đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:79/2025/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 10 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa số 277/2025/QDDST-DS ngày 30/10/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Thanh V, sinh năm 1962

Địa chỉ: Số G, tổ I, ấp H, xã Đ, tỉnh Đồng Nai

Bị đơn:

  1. Ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1957.
  2. Địa chỉ: Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (Nay là ấp D, xã M, tỉnh Tây Ninh)

  3. Ông Huỳnh Văn L, sinh năm 1966.
  4. Địa chỉ: Số A, đường T, khu phố A, phường V, TP ..

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Mai Xuân Đ, sinh năm 1964.
  2. Ông Ngô Huỳnh P, sinh năm 1982.
  3. Ông Ngô Huỳnh A, sinh năm 1991.

Đại diện theo ủy quyền của ông P, ông Huỳnh A: Bà Huỳnh Thị Thanh V, sinh năm 1962 (theo giấy ủy quyền ngày 07/3/2025, ngày 11/3/2025)

Cùng địa chỉ: số G, tổ I, ấp H, xã Đ, tỉnh Đồng Nai.

1

(Bà V có mặt; ông N, ông L vắng mặt và có đơn xét xử vắng mặt; ông Đ vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/08/2024, bản tự khai ngày 03/12/2024, biên bản kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ ngày 30/09/2025, biên bản không tiến hành hòa giải được ngày 30/09/2025 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thanh V trình bày:

Bà V là một trong những người thừa kế của cụ Tạ Liềm H (mẹ ruột bà V), sinh năm 1923, mất năm 2016. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ H là 07 người con ruột gồm bà Lê Thị Kim A1 (bà Al chết trước cụ H nên các con bà A1 là Lê Thành T và Lê Thị Phương T1 vị), bà Lê Thị E, bà Lê Thị L1, bà Huỳnh Thị Kim G, ông Huỳnh Văn N, bà Huỳnh Thị Thanh V, ông Huỳnh Văn L. Trước khi qua đời, cụ H có để lại di sản thừa kế là nhà ở gắn liền với đất toạ lạc tại số G, tổ I, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

Tại bản án số 16/2022/DS-ST ngày 30/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đồng Nai) tuyên buộc giao di sản thừa kế diện tích đất 349,6m2, thửa tạm số 24A, tờ bản đồ số 47 cho ông N, ông L (một trong những người thừa kế). Trong bản án ghi nhận rằng bà V là người sinh trưởng và sinh sống trong ngôi nhà này từ nhỏ đến lớn, kể cả hiện tại; có công chăm sóc, nuôi dưỡng mẹ già nên được thanh toán tiền công sức nuôi dưỡng, phụng dưỡng người để lại di sản thừa kế theo bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 31/01/2024. Bà V kháng cáo và tại bản án phúc thẩm số 183/2024/DS-PT ngày 10/7/2024 không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án số 04/2024/DS-ST ngày 31/01/2024. Bà V cho rằng có sinh sống cùng cụ H tại căn nhà toạ lạc tại số G, tổ I, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai từ năm 1970 cho đến nay và cùng bà G chăm sóc cụ H cho đến khi cụ mất. Ngoài căn nhà này thì gia đình bà V không còn chỗ ở nào khác.

Ông N, ông L là những người được giao thừa hưởng di sản gắn liền trên đất đều đã có cơ ngơi, nhà cửa vững chắc.

Bản thân bà V và gia đình bà đang vô cùng khó khăn, không có thu nhập gì (nhất là qua mùa dịch Covid-19, không có công ăn việc làm). Thế nhưng, tại bản án số 16/2022/DS-ST ngày 30/8/2022 của Toà án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai lại không cho gia đình bà thời hạn lưu cư để có thời gian tìm chỗ ở mới.

Yêu cầu giải quyết cho ông Mai Xuân Đ, bà Huỳnh Thị Thanh V, anh Ngô Huỳnh P, anh Ngô Huỳnh A được quyền lưu cư trên căn nhà gắn liền với đất số 74, tổ I, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (Nay là số 74, tổ I, ấp H, xã Đ, tỉnh Đồng Nai) trong thời hạn 04 năm; kể từ ngày án có hiệu lực thi hành.

Ngoài ra nguyên đơn không trình bày gì thêm, không bổ sung chứng cứ gì mới, không yêu cầu đưa ai vào tham gia trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Tại biên bản biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 15/12/2024 bị đơn ông Huỳnh Văn N, ông Huỳnh Văn L đã trình bày:

2

Ông N và ông L đã nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án số 165/2024/TB-TLVA ngày 13/11/2024 (bản chính), đơn khởi kiện ngày 02/8/2024 (photo) của bà Huỳnh Thị Thanh V thì ông N, ông L có ý kiến như sau:

Ông N, ông L không đồng ý với đơn khởi kiện của bà V về việc yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông Mai Xuân Đ, bà Huỳnh Thị Thanh V, anh Ngô Huỳnh P, anh Ngô Huỳnh A được quyền lưu cư tại căn nhà gắn liền với đất số 74, tổ I, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai trong thời hạn 04 năm; kể từ ngày án có hiệu lực thi hành.

Vì lý do: Theo bản án số 16/2022/DS-ST ngày 30/8/2022 về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và đòi lại tài sản thì Toà án huyện Đ chia cho ông N được quyền sử dụng diện tích đất là 174,8m2, thửa tạm 24A, tờ 47.

Chia cho ông L được sử dụng diện tích 174,8m2, thửa tạm 24A, tờ 47. Bên cạnh đó, về thời hạn lưu cư Bộ luật dân sự năm 2015 không quy định nên Tòa án không xét.

Sau đó bà V không đồng ý với bản án, không kháng cáo mà đề nghị Viện kiểm sát cấp cao kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án số 16/2022/DS-ST ngày 30/8/2022. Tại thông báo số 951/TB-VKS -DS ngày 26/9/2023 Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành thông báo về việc không kháng nghị giám đốc thẩm.

Sau đó ông N, ông L đã làm đơn yêu cầu thi hành án và được Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Quán ra quyết định cưỡng chế số 02 ngày 11/11/2024. Ông N, ông L đã giao đủ số tiền nộp vào cơ quan thi hành án thanh toán tiền giá trị chênh lệch cho bà Huỳnh Thị Thanh V, mỗi người đã nộp vào 143.882.000đồng thực hiện nghĩa vụ của công dân trong bản án theo quy định pháp luật.

Trong quá trình thi hành án, bà V gây khó khăn nên khởi kiện tranh chấp thanh toán công sức nuôi dưỡng và được Tòa án huyện Đ giải quyết bằng bản án số 04/2024/DS-ST ngày 31/01/2024, chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của bà V, buộc ông N, ông L phải thanh toán cho bà V số tiền là 28.776.400đồng. Bà V kháng cáo và Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai không chấp nhận kháng cáo của bà V, giữ nguyên bản án sơ thẩm nên ông N, ông L mỗi người đã nộp số tiền 28.776.400đồng vào Chi cục thi hành án. Bà V đã nhận đủ số tiền này.

Việc thụ lý vụ án này số 165 ngày 13/11/2024 mà Tòa án đã thụ lý có 01 tài sản mà phát sinh 03 vụ kiện thì ông N, ông L không đồng ý nên ông N, ông L đề nghị Toà án hủy việc thụ lý vụ án của bà Huỳnh Thị Thanh V về việc yêu cầu được lưu cư trên đất, nếu không ông N, ông L sẽ khiếu nại. Ông N, ông L không còn trình bày gì khác.

Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Ngô Huỳnh P, ông Ngô Huỳnh A có bà Huỳnh Thị Thanh V trình bày: Bà V thống nhất như lời trình bày của bà đã trình bày tại đơn khởi kiện ngày 02/8/2024 và bản tự khai ngày 03/12/2024.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

3

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; về quan hệ pháp luật, xác định tư cách pháp lý của nguyên đơn và bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, thẩm quyền thụ lý của Tòa án, thời hiệu khởi kiện, việc thu thập chứng cứ đúng quy định. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ, thủ tục cấp tống đạt niêm yết cho các đương sự đảm bảo theo quy định pháp luật. Các quyền nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo thực hiện. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng đúng trình tự thủ tục theo quy định của của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; những người tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ: Khoản 2, Điều 26, Điều 35; Điều 39; khoản 24, Điều 70; các Điều 68, 147, 185, khoản 1, Điều 227, khoản 1, Điều 228, các Điều 235, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 1 Luật sửa đổi một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025. Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 17/6/2025 thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân khu vực. Các Điều 115,155,159, 160, 161, 163, 164, 189,191 Bộ luật dân sự 2015. Điều 2, 3, 4, 7, 11 Luật thi hành án năm 2008, Điều 7a, 7b Luật sửa đổi Luật thi hành án năm 2014; Tại Điều 7 của Luật cư trú. Điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thanh V về việc cho ông Mai Xuân Đ, bà Huỳnh Thị Thanh V, ông Ngô Huỳnh P, ông Ngô Huỳnh A được quyền lưu cư trên căn nhà gắn liền với đất số 74, tổ I, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (Nay là số 74, tổ I, ấp H, xã Đ, tỉnh Đồng Nai) trong thời hạn 04 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực thi hành.

Về án phí: Nguyên đơn bà V đã được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí dân sự do thuộc trường hợp người cao tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1] Thẩm quyền giải quyết: Do tranh chấp giữa bà V và ông N, ông L là tranh chấp quyền lưu cư trên đất, là 01 trong các quyền tài sản khác liên quan đến bất động sản (quyền sử dụng của người không phải là chủ sở hữu) nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nơi có bất động sản nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đồng Nai quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Khoản 2, Điều 1 Luật sửa đổi một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025.Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 17/6/2025 thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân khu vực.

[2] Quan hệ pháp luật, xác định tư cách pháp lý của đương sự:

4

Ngày 13/11/2024 Tòa án thụ lý yêu cầu khởi kiện của bà V khởi kiện yêu cầu được lưu cư trên đất. Do đó xác định quan hệ pháp luật tranh chấp quyền lưu cư trên đất quy định tại khoản 2, Điều 26 BLTTDS. Căn cứ vào Điều 68 BLTTDS xác định bà V là người khởi kiện sẽ là nguyên đơn, ông N, ông L là người bị kiện sẽ là bị đơn, ông Đ, ông P và ông Huỳnh A là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Ngày 15/10/2025 Tòa án ban hành thông báo không đưa tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án gồm: Ông Lê Thành T, sinh năm 1956; bà Lê Thị P1, sinh năm 1959; bà Lê Thị E, sinh năm 1942; bà Lê Thị L1, sinh năm 1945; bà Huỳnh Thị Kim G, sinh năm 1956.

[3] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 05/8/2024 bà V nộp đơn khởi kiện đến Tòa án, ngày 13/11/2024 được Tòa án thụ lý vụ án về tranh chấp quyền lưu cư trên đất, theo quy định của pháp luật thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện quy định tại khoản 4, Điều 155 Bộ luật dân sự.

[4] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa bị đơn ông Huỳnh Văn N, ông Huỳnh Văn L có đơn xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Mai Xuân Đ vắng mặt đã được niêm yết hợp lệ lần 2 nên Tòa án tiến hành xét xử theo quy định pháp luật. Căn cứ quy định tại khoản 1, Điều 227, khoản 1, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[5] Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào thẩm quyền giải quyết, thời hiệu khởi kiện, quan hệ pháp luật, xác định tư cách đương sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo thì áp dụng: Khoản 2, Điều 26, Điều 35; Điều 39; khoản 24, Điều 70; các Điều 68, 147, 185, khoản 1, Điều 227, khoản 1, Điều 228, các Điều 235, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 1 Luật sửa đổi một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025. Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 17/6/2025 thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân khu vực. Các Điều 115, 155, 159, 160, 161, 163, 164, 189,191 Bộ luật dân sự 2015. Điều 2, 3, 4, 7, 11 Luật thi hành án năm 2008, Điều 7a, 7b Luật sửa đổi Luật thi hành án năm 2014; Tại Điều 7 của Luật cư trú. Điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Về đường lối giải quyết vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện và tài liệu chứng cứ của nguyên đơn, cùng các tài liệu do Tòa án thu thập nhận thấy:

[6] Về tranh chấp quyền lưu cư trên đất:

[6.1] Bà V khởi kiện giải quyết cho ông Mai Xuân Đ, bà Huỳnh Thị Thanh V, ông Ngô Huỳnh P, ông Ngô Huỳnh A được quyền lưu cư trên căn nhà gắn liền với đất số 74, tổ I, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (Nay là số 74, tổ I, ấp H, xã Đ, tỉnh Đồng Nai) trong thời hạn 04 năm; kể từ ngày án có hiệu lực thi hành.

[6.2] Chứng minh cho yêu cầu khởi kiện bà V đã cung cấp: Bản án số 16/2022/DS-ST ngày 30/8/2022 của Toà án nhân dân huyện Định Quán, bản án số 04/2024/DS-ST ngày 31/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Định Quán, bản án số 183/2024/DS-PT ngày 10/7/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai, giấy xác nhận thông tin cư trú của bà V, bản photo đơn xin xác nhận của bà V gửi công an thị trấn Đ ngày 20/3/2023, bản sao đơn xin xác nhận của bà V gửi Ủy ban thị trấn

5

Đ ngày 02/12/2022, bản phôto đơn xin xác của bà V gửi Uỷ ban thị trấn Định Quán này 07/12/2020.

[6.3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy: Tại bản án dân sự sơ thẩm số 16/2022/DS-ST ngày 30/8/2022 về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và đòi lại tài sản. Phần quyết định của bản án có tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn N, phân chia di sản: chia cho ông N được sử dụng diện tích 174,8m2 thuộc thửa tạm số 24A, tờ bản đồ số 47, giấy chứng nhận số V 250871 do UBND huyện Đ cấp ngày 06/5/2002 cho cụ Tạ Liềm H và các tài sản trên đất. Chia cho ông L được sử dụng diện tích 174,8m2 thuộc thửa tạm số 24A, tờ bản đồ số 47 (theo sơ đồ trích lục và đo chỉnh lý thửa đất số 6663/2020 ngày 30/12/2019).

Chia cho bà Huỳnh Thị Thanh V được hưởng 1/7 giá trị di sản tương đương với số tiền 287.764.000đồng. Buộc ông Mai Xuân Đ, bà Huỳnh Thị Thanh V, anh Ngô Huỳnh P, anh Ngô Huỳnh A giao cho ông N, ông L căn nhà số G, tổ I, khu phố H cùng diện tích đất 349,6m2 thuộc thửa tạm số 24A, tờ bản đồ số 47 giấy CNQSD đất số V 250871 do UBND huyện Đ cấp ngày 06/5/2002 cho cụ Tạ Liềm H.

Ông N ông L có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và chấp hành đúng quy hoạch, thu hồi đất của Nhà nước.

Tại thông báo số 951/TB-VKS -DS ngày 26/9/2023 Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành thông báo về việc không kháng nghị giám đốc thẩm, nhận thấy bản án sơ thẩm giao di sản bằng hiện vật cho ông N, ông L, buộc ông N ông L thanh toán giá trị chênh lệch cho bà là có căn cứ và đảm bảo điều kiện thi hành án, bà khiếu nại nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh bản án sơ thẩm giải quyết không đúng quy định pháp luật.

Sau khi xét xử Tòa án đã tống đạt bản án cho bà, do bà vắng mặt ở địa phương không rõ thời điểm trở về nên Tòa án đã niêm yết có xác nhận của chính quyền địa phương. Do đó, không có căn cứ để kháng nghị bản án theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án nêu trên.

Sau đó bà V tiếp tục khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Định Quán và tại bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 31/01/2024 về tranh chấp thanh toán công sức nuôi dưỡng, phụng dưỡng người để lại di sản thừa kế và công sức bảo quản, giữ gìn tôn tạo làm tăng thêm giá trị quyền sử dụng đất đối với di sản thừa kế. Tại phần quyết định của bản án dân sự đã chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thanh V. Buộc ông N, ông L mỗi người phải có trách nhiệm thanh toán cho bà V số tiền 28.776.400đồng. Tuy nhiên sau đó bà V kháng cáo và được Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm tại bản án số 183/2024/DS-PT ngày 10/7/2024, tại phần quyết định không chấp nhận đơn kháng cáo của bà V, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày

6

31/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đồng Nai).

Tại văn bản số 604/CTHADS -KTr ngày 19/02/2025 của Chi cục thi hành án trả lời đơn cho ông Đ, bà V: Sau khi bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ông N, ông L yêu cầu thi hành bản án số 16/2022/DS-ST ngày 30/8/2022. Ngày 14/11/2022 chi cục thi hành án dân sự huyện Định Quán ban hành quyết định thi hành án số 25/QĐ-CCTHADS cho thi hành án đối với ông Đ, bà V, ông P, ông A phải giao cho ông N ông L căn nhà số G, tổ I, khu phố H. Quá trình thi hành án bà V cho rằng bản án dân sự sơ thẩm nêu trên xét xử không công bằng ảnh hưởng đến quyền lợi của bà. Bà đề nghị hoãn thi hành bản án dân sự sơ thẩm số 16/2022/DSST ngày 30/8/2022, sau đó chi cục thi hành án thông báo cho bà V ông Đ biết không có cơ sở hoãn thi hành bản án, văn bản số 487/CCTHA ngày 23/12/2024 của Chi cục Thi hành án trả lời cho ông bà biết không có cơ sở ngưng, hoãn thi hành án. Yêu cầu ông bà thực hiện việc giao tài sản theo đúng nội dung bản án đã tuyên.

Tại khoản 24, Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định quyền nghĩa vụ của đương sự: đương sự chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Như vậy sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì đương sự phải nghiêm chỉnh chấp hành.

Tại Điều 2, 3, 4, 7, 11 Luật thi hành án năm 2008, Điều 7a, 7b Luật sửa đổi Luật thi hành án năm 2014, quy định: Bản án được thi hành là bản án có hiệu lực, bản án phải được công dân tôn trọng, trong phạm vi trách nhiệm của mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án. Người được thi hành án, người phải thi hành án căn cứ vào bản án, quyết định có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc thi hành án. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên theo quy định của Luật này. Mọi hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật đối với hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Điều 7 của Luật cư trú quy định các hành vi bị nghiêm cấm về cư trú: Lạm dụng việc sử dụng thông tin về nơi thường trú, nơi tạm trú làm điều kiện để hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

Tại Điều 06 BLTTDS quy định về cung cấp chứng cứ và chứng minh “Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”. Khoản 5 Điều 189 quy định “kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm”. Tuy nhiên bà V không có tài liệu chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của bà. Việc chia di sản và công sức đóng góp đã được Tòa án giải quyết bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật. Sau khi bản án dân sự số 16 ngày 30/8/2022 có hiệu lực pháp luật, tính đến nay bà V đã ở trên

7

đất đã 03 năm nhưng không chịu giao tài sản. Bà V cung cấp các đơn xác nhận (photo) và cho rằng bà đã sinh sống ổn định lâu dài trên thửa đất, không vắng mặt khoảng thời gian nào, tuy nhiên tại các đơn xác nhận này Công an thị trấn Đ và UBND thị trấn Đ chỉ xác nhận bà V có đăng ký thường trú tại địa phương. Tại các biên bản xác minh ngày 23/7/2025 (bút lục 121 -125) thể hiện từ năm 2000 sau khi làm ăn thất bại thì gia đình riêng của bà V đi khỏi địa phương, dọn đến nơi khác sinh sống. Do đó 21 năm bà V không sinh sống tại địa phương, thỉnh thoảng có về thăm cha mẹ khi lễ tết, cho đến năm 2021 bà V mới trở về căn nhà của cụ H để sinh sống cho đến nay. Mặc dù đây là chỗ ở duy nhất của bà V nhưng Tòa án đã phân chia di sản thừa kế, giao hiện vật là nhà đất cho người khác. Việc pháp luật không quy định quyền lưu cư trên đất nên bà V nại ra lý do không có chỗ ở để xin lưu cư 04 năm nhằm kéo dài thời gian thi hành bản án, không giao tài sản làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người được thi hành án.

Qua các tài liệu chứng cứ đã được phân tích như trên, Hội đồng xét xử nhận thấy rằng việc bà V khởi kiện yêu cầu giải quyết cho ông Mai Xuân Đ, bà Huỳnh Thị Thanh V, anh Ngô Huỳnh P, anh Ngô Huỳnh A được quyền lưu cư trên căn nhà gắn liền với đất số 74, tổ I, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (Nay là số 74, tổ I, ấp H, xã Đ, tỉnh Đồng Nai) trong thời hạn 04 năm; kể từ ngày án có hiệu lực thi hành là không có căn cứ nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ vào khoản 24, Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 2, 3, 4, 7, 11 Luật thi hành án năm 2008, Điều 7a, 7b Luật sửa đổi Luật thi hành án năm 2014; Tại Điều 7 của Luật cư trú.

[7] Về án phí:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà V không được chấp nhận nên bà V phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch. Tuy nhiên bà V có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí và án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi nên bà V được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Quy định điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

[8] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đồng Nai phù hợp với nhận định và quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 2, Điều 26, Điều 35; Điều 39; khoản 24, Điều 70; các Điều 68, 147, 185, khoản 1, Điều 227, khoản 1, Điều 228, các Điều 235, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 1 Luật sửa đổi một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025. Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 17/6/2025 thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân khu vực.

Các Điều 115, 155, 159, 160, 161, 163, 164, 189, 191 Bộ luật dân sự 2015.

8

Điều 2, 3, 4, 7, 11 Luật thi hành án năm 2008, Điều 7a, 7b Luật sửa đổi Luật thi hành án năm 2014; Tại Điều 7 của Luật cư trú.

Điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu giải quyết cho ông Mai Xuân Đ, bà Huỳnh Thị Thanh V, ông Ngô Huỳnh P, ông Ngô Huỳnh A được quyền lưu cư trên căn nhà gắn liền với thửa đất số 24A, tờ bản đồ số 47, vị trí tọa lạc tại: số G, tổ I, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (Nay là số 74, tổ I, ấp H, xã Đ, tỉnh Đồng Nai) trong thời hạn 04 năm; kể từ ngày án có hiệu lực thi hành.
  2. Về án phí: Bà V đã được miễn án phí dân sự sơ thẩm do thuộc người cao tuổi.
  3. Quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn bà V, ông P, ông Huỳnh A2 biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng ông N, ông L, ông Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • -VKSND khu vực 7 – Đồng Nai;
  • -THADS tỉnh Đồng Nai-khu vực 7;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu HS - LT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Lan

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2025/DS – ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp quyền lưu cư trên đất

  • Số bản án: 75/2025/DS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền lưu cư trên đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huynh Thi Thanh V - Huynh Van N - Tranh chap quyen luu cu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger