Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 75/2025/DS-ST

Ngày: 17-6-2025

V/v tranh chấp hụi

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Nguyễn Minh Sơn

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Tống Văn Tâm;
  2. Ông Nguyễn Văn Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thuyến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Giáp – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 178/2025/TLST-DS ngày 28 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2025/QĐXXST-DS ngày 22/5/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ A, ấp Đ, xã B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  2. Bị đơn: Bà Trần Thị M, sinh năm 1961; địa chỉ: Tổ D, khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong quá trình tham gia tố tụng, ý kiến của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc L được thể hiện như sau:

Bà Nguyễn Ngọc L và Trần Thị M có mối quan hệ quen biết với nhau, bà L là chủ hụi và bà M là hụi viên. Quá trình tham gia chơi hụi, bà M đã nợ tiền hụi của bà L cụ thể như sau:

  • Nợ tiền hụi cũ tính đến ngày 08/12/2021 là 34.270.000 đồng, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu này là giấy do bà M tự viết tay xác nhận “âm nợ 2 chân” số tiền 34.270.000 đồng.
  • Dây hụi mở ngày 15/12/2020, gồm 15 phần, mỗi phần 5.000.000 đồng, bà M tham gia tổng cộng 03 phần. Quá trình tham gia hụi bà M còn nợ bà L số tiền hụi là 70.000.000 đồng;
  • Dây hụi mở ngày 20/02/2021, gồm 13 phần, mỗi phần 5.000.000 đồng, bà M tham gia tổng cộng 02 phần. Quá trình tham gia hụi bà M còn nợ bà L số tiền hụi là 60.000.000 đồng;

Như vậy, tổng số tiền hụi bà M còn nợ bà L là 164.270.000 đồng. Ngày 06/3/2022, bà M có trả được số tiền 9.000.000 đồng sau đó thì không trả thêm khoản nào khác. Bà L nhiều lần yêu cầu bà M trả tiền nhưng bà M tránh né không trả nên bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà M phải trả tổng số tiền hụi còn nợ bà L là 155.270.000 đồng, bà L không yêu cầu tính lãi xuất với bà M.

Ngày 10/6/2025, bà L nộp đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 32.270.000 đồng và xác định chỉ yêu cầu bà Trần Thị M phải trả số tiền hụi còn nợ là 123.000.000 đồng.

Trong quá trình tham gia tố tụng, ý kiến của bị đơn bà Trần Thị M được thể hiện như sau:

Bà M có tham gia hụi do bà L làm chủ hụi đúng như bà L trình bày. Tuy nhiên, bà M không nợ bà L nhiều tiền hụi như bà L yêu cầu. Bà M đã chốt số tiền hụi còn nợ bà L là 123.000.000 đồng và xác định không còn nợ bà L bất kỳ khoản tiền hụi nào khác.

Nay bà L khởi kiện số tiền 155.270.000 đồng thì bà M không đồng ý, bà M chỉ đồng ý số tiền 123.000.000 đồng. Trường hợp bà L vẫn yêu cầu cầu 155.270.000 đồng thì bà L phải chứng minh.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên có ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục, người tham gia tố tụng đúng thành phần. Phiên tòa được tiến hành đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật tranh chấp hụi.

Về nội dung vụ án: Các tài liệu, chứng cứ được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa cho thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ đối với một phần yêu cầu khởi kiện mà nguyên đơn xin rút lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định,

  1. [1] Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc tranh chấp hụi, yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ trả số tiền hụi còn nợ. Bị đơn có nơi cư trú tại Tổ D, khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hụi”.

Quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

  1. [2] Về pháp luật áp dụng: Việc mở hụi và tham gia chơi hụi giữa nguyên đơn, bị đơn được thực hiện từ năm 2021, nên áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật chi tiết để giải quyết.
  2. [3] Về nội dung vụ án:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/12/2024, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tổng số tiền hụi còn nợ là 155.270.000 đồng. Ngày 10/6/2025, nguyên đơn nộp đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 32.270.000 đồng và xác định chỉ yêu cầu bị đơn phải trả số tiền hụi còn nợ là 123.000.000 đồng. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật. Căn cứ các Điều 217, 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình về việc buộc bị đơn phải trả số tiền hụi còn nợ là 123.000.000 đồng, nguyên đơn giao nộp bản chính 03 giấy giao hụi được viết trên giấy tập học sinh, không thể hiện rõ ngày tháng năm (bút lục 24, 31, 32); bản chính 04 danh sách hụi viên, được in trên ½ tờ giấy A4 có chữ viết tay bằng mực xanh, không thể hiện rõ nội dung (bút lục 27, 28, 29, 31) và bản chính 01 giấy có nội dung chốt hụi số tiền 123.000.000 đồng (bút lục 25). Quá trình tham gia tố tụng, bị đơn chỉ thừa nhận chứng cứ là bản chính giấy có nội dung chốt hụi (bút lục 25) và xác định còn nợ nguyên đơn số tiền hụi chưa trả là 123.000.000 đồng, đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

  1. [4] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên về phần thủ tục tố tụng cũng như về nội dung vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  2. [5] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận. Tuy nhiên, bị đơn là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn nộp án phí nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 70, 72, 92, 147, 217, 227, 228, 238, 244, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 463, 471, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc L1 về việc yêu cầu bà Trần Thị M phải trả số tiền 32.270.000 đồng (ba mươi hai triệu hai trăm bảy mươi ngàn đồng).
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc L đối với bà Trần Thị M về việc “Tranh chấp hụi”.

Bà Trần Thị M phải trả cho bà Nguyễn Ngọc L số tiền 123.000.000 đồng (một trăm hai mươi ba triệu đồng).

Sau khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền trên, thì người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    3.1. Án phí dân sự sơ thẩm là 6.150.000 đồng (sáu triệu một trăm năm mươi ngàn đồng). Bà Trần Thi M1 là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

    3.2. Hoàn trả cho bà Nguyễn Ngọc L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.881.750 đồng (ba triệu tám trăm tám mươi mốt ngàn bảy trăm năm mươi đồng) theo biên lai thu số 0002531 ngày 25 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - CC THA DS thành phố Tân Uyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Nguyễn Minh Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2025/DS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 75/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Ngọc L và bà Trần Thị M tranh chấp về tiền hụi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger