|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU Bản án số 75/2025/DS-PT Ngày 09-6-2025 V/v tranh chấp đòi quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Văn Định
Các Thẩm phán: Ông Lê Phan Công Trí
Ông Lê Thanh Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hoàng Kha – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Trương Trung Tín - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2025/TLPT-DS ngày 25 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp Đòi quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 120/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 52A/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 04 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1955. Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Mai Hữu T, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị T1, sinh năm 1956. Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt).
- Bà Lê Thị N, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt).
- Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Địa chỉ: Ấp P, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Hồng L – chức vụ: Chủ tịch. (Vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn M là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn M trình bày:
Ông M và vợ là bà T1 có phần đất ven sông giáp ranh đất ông T và bà N, đất thuộc ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Quá trình sử dụng ông T và bà N đã lấn qua phần đất ven sông của vợ chồng ông M. Về nguồn gốc đất, ông M cho rằng đất này ông nhận chuyển nhượng lại thông qua thỏa thuận miệng với người khác, ông có đi kê khai đăng ký để được cấp quyền sử dụng đất nhưng cơ quan cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trả lời không cấp quyền sử dụng đối với đất ven sông, nên hiện tại ông M chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đất này ông M chưa từng sử dụng vì do bị ông T lấn chiếm và sử dụng. Hiện trạng đất tranh chấp một phần giáp cầu kinh Ranh Hạt là mặt nước, anh T dùng vào việc đậu ghe, phần phía bên anh T thì anh T đắp đất kè lên nhưng vẫn bỏ trống.
Do đó, ông M khởi kiện yêu cầu ông T và bà N trả lại cho vợ chồng ông M phần đất có diện tích 42m² tọa lạc tại ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Qua đo đạc thực tế đất tranh chấp có diện tích 18,3m² nên ông M rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với diện tích đất 23,7m².
– Bị đơn ông Mai Hữu T trình bày:
Ông T và vợ là bà N có phần đất ven sông giáp ranh đất ông M và bà T1, đất thuộc ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Đất này có nguồn gốc do ông nhận chuyển nhượng của người khác vào năm 2007. Từ khi nhận chuyển nhượng đến nay, ông T sử dụng đúng với phần đất của ông, không có lấn qua phần đất ven sông của vợ chồng ông M như ông M trình bày. Phần đất mà ông M tranh chấp nằm ngay phía trước đất ông T chỉ cách lộ nông thôn, trên phần đất ông T có đắp đất kè ra để cho lộ không sạt lở, còn phần giáp cầu kênh Ranh Hạt là nước. Đất này ông T và bà N có liên hệ để xin cấp quyền sử dụng đất, nhưng Ủy ban nhân dân xã trả lời là đất ven sông nên không cấp quyền sử dụng đất, nên đến nay vợ chồng ông chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đất này vợ chồng ông sử dụng ổn định từ năm 2007 đến nay, không phải đất của ông M, nên ông không đồng ý toàn bộ yêu cầu của ông M.
– Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T1 trình bày: Bà T1 thống nhất với nội dung ông Nguyễn Văn M trình bày, không bổ sung và yêu cầu gì thêm.
– Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị N trình bày: Bà N thống nhất với nội dung ông Mai Hữu T trình bày, không bổ sung và yêu cầu gì thêm.
– Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã V, do người đại diện trình bày: Đất tranh chấp là đất bảo lưu ven sông (Bảo lưu kênh R) nhằm mục đích bảo vệ lộ bê tông tiếp giáp, đất này hiện tại Ủy ban nhân dân xã V chưa có phương án quy hoạch nào tại địa phương. Ủy ban nhân dân xã V đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật giải quyết tranh chấp này.
Từ nội dung nêu trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 120/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu đã quyết định:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M đối với phần đất có diện tích 23,7m².
- Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện còn lại của ông Nguyễn Văn M về việc yêu cầu anh Mai Hữu T và chị Lê Thị N trả ông M quyền sử dụng đối với phần đất có diện tích 18,3m², đất thuộc một phần thửa T1 tờ bản đồ số 49 (đất bờ kênh hay còn gọi là đất bảo lưu ven kênh), tọa lạc tại ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, đất có vị trí và số đo như sau:
- + Hướng đông giáp phần mặt nước phía bên ông M có cạnh 8,72m;
- + Hướng tây giáp phần đất ven sông anh T đang sử dụng có cạnh 9,04m;
- + Hướng nam giáp kênh R cạnh 3,68m;
- + Hướng bắc giáp lộ bê tông cạnh 0,53m.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 08 tháng 10 năm 2024, nguyên đơn ông Nguyễn Văn M kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu ý kiến:
+ Về thủ tục tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của ông M, giữ nguyên Bản dân sự sơ thẩm số 120/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến tranh luận của các đương sự và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu, sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn M nộp trong hạn luật định và có đơn đề nghị miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm do thuộc trường hợp người cao tuổi. Căn cứ Điều 273 và Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự, được chấp nhận xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Ông M xác định diện tích đất 18,3m² là đất của ông M nhận chuyển nhượng lại của người khác, nay ông T và bà N sử dụng phần đất này nên ông M đòi lại. Ông T và bà N không thừa nhận có lấn đất ông M mà xác định đất ông M tranh chấp thuộc một phần trong toàn bộ diện tích đất vợ chồng ông T nhận chuyển nhượng và sử dụng ổn định từ năm 2007 cho đến nay. Trong suốt quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa ông M chỉ trình bày bằng lời nói đây là đất của ông mà không cung cấp được bất cứ tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh đất tranh chấp là của ông M. Mặt khác, qua trình bày của các đương sự thống nhất các bên đều có đăng ký làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất đối với phần đất này, nhưng cơ quan cấp giấy trả lời là đất không thuộc trường hợp cấp quyền sử dụng đất cho người dân.
[2.2] Tại Công văn số 2104/UBND ngày 24/9/2024 của Ủy ban nhân dân huyện P xác định phần đất tranh chấp là đất bờ bênh (Bảo lưu ven kênh) thuộc một phần thửa T1, tờ bản đồ số 49 không được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi người dân sử dụng ổn định, lâu dài, không tranh chấp.
Tại Công văn số 79/CV-UBND ngày 20/8/2024 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện P xác định phần đất tranh chấp là đất bảo lưu ven sông (Bảo lưu kênh R) nhằm mục đích bảo vệ lộ bê tông tiếp giáp, đất này hiện tại Ủy ban nhân dân xã V chưa có phương án quy hoạch nào tại địa phương.
Như vậy, có cơ sở xác định đất tranh chấp do Nhà nước quản lý, sử dụng vào mục đích bảo lưu ven kênh nên việc ông M khởi kiện cho rằng quyền sử dụng đất của ông M và yêu cầu ông T trả lại đất cho ông là không có căn cứ.
[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông M, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 120/2024/DSST ngày 24/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
[4] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: do ông M là người cao tuổi và có đơn nên được miễn nộp tiền án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn M. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 120/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
- Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 244, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M đối với phần đất có diện tích 23,7m².
- Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện còn lại của ông Nguyễn Văn M về việc yêu cầu ông Mai Hữu T và bà Lê Thị N trả ông M quyền sử dụng đối với phần đất có diện tích 18,3m², đất thuộc một phần thửa T1 tờ bản đồ số 49 (đất bờ kênh hay còn gọi là đất bảo lưu ven kênh), tọa lạc tại ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, đất có vị trí và số đo như sau:
- - Hướng đông giáp phần mặt nước phía bên ông M có cạnh 8,72m;
- - Hướng tây giáp phần đất ven sông anh T đang sử dụng có cạnh 9,04m;
- - Hướng nam giáp kênh R cạnh 3,68m;
- - Hướng bắc giáp lộ bê tông cạnh 0,53m.
- Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Văn M phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền là 5.059.911 đồng, ông M đã nộp đủ số tiền trên.
- Về án phí: ông Nguyễn Văn M được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Văn Định |
Bản án số 75/2025/DS-PT ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất
- Số bản án: 75/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp đòi quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
