Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2025/DS-PT

Ngày: 06/6/2025

V/v: “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nam.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Bình.

Ông Đỗ Thế Bình.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 95/2025/TLPT - DS, ngày 05/02/2025 về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 44/2024/DSST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: /2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị T, sinh năm 1961 (Có mặt).

HKTT: Xóm X, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1977 (Có mặt).

HKTT: Xóm X, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.

Bà Ngô Thị P, sinh năm 1978 (Có mặt).

HKTT: Xóm X, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Phương H, sinh năm 1985 (Có mặt).

Địa chỉ: Số E Hồ N, khu Y, phường K, thành phố B.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Ngô Minh Q, sinh năm 1973 (Có mặt).
  2. Bà Thang Thị B1, sinh năm 1977 (Có mặt).
  3. Anh Ngô Minh Đ, sinh năm 2003 (Có mặt).
  4. Chị Ngô Thu H1, sinh ngày 09/5/2007 (Vắng mặt).

Đại diện theo pháp luật của chị H1 là ông Q, bà B1.

Cùng địa chỉ: Xóm X, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.

  1. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1998 (Vắng mặt).
  2. Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 2002 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Xóm X, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.

  1. Anh Lê Phương N, sinh năm 1999 (Có mặt).
  2. Chị Lê Đặng Hồng N1, sinh năm 2002 (Có mặt).

Cùng địa chỉ: Xóm X, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.

Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa thì nguyên đơn là bà Ngô Thị T trình bày:

Về nguồn gốc thửa đất bà T đang sử dụng là của bố đẻ bà là cụ Ngô Văn T1 cho bà năm 2003. Khi cho bố bà có viết giấy tay có chứng kiến của các anh chị em trong gia đình gồm em trai là Ngô Văn Q1, em gái Ngô Thị T2 có sự chứng kiến của ông Ngô Gia B2 là trưởng xóm X, trưởng thôn là ông Ngô Tiến N2 thời điểm bấy giờ. Bố bà cho chiều rộng từ Đông sang N là 8,5m, chiều rộng Bắc sang Tây là 8,5m còn chiều dài căn cứ theo bản đồ năm 1995. Sau khi bố bà cho đất đến năm 2006 bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 326, tờ bản đồ số 05, diện tích 200m² tại xóm X, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.

Năm 2008 do hoàn cảnh khó khăn, gia đình bà được Hội chữ thập đỏ hỗ trợ cho một phần kinh phí cùng với sự hỗ trợ của anh chị em trong gia đình nên bà đã xây dựng một ngôi nhà cấp 4, khi xây dựng bà không làm hết đất mà để lại một phần diện tích ở phía sau nhà, toàn bộ tường xây bao quanh đất là do các hộ giáp ranh xây và gia đình bà vẫn sử dụng từ trước cho đến khi xảy ra tranh chấp. Đến khi mở đường ở kênh E thì đến tháng 3/2018 gia đình anh B2 trổ cửa đi sang phần đất của gia đình nhà bà, bà không đồng ý cho đi sang phần đất của gia đình bà nên đã xảy ra tranh chấp. UBND xã T đã gọi hai bên gia đình lên hòa giải nhưng không thành. Anh B2 vẫn cố tình đổ cát, đua những thanh sắt thép gần 1m, trổ lối đi sang phần đất nhà bà, tân lấn phần đất thuộc về nhà bà làm nước trong vườn của em trai bà (ông Q1) không thoát đi được, anh Bằng K cho bà khơi rãnh ở cạnh tường nhà anh B2 và cũng không cho khơi ở giữa mà bắt bà khơi rãnh ở sát móng tường nhà bà. Phía Ủy ban xã T, phòng Tài nguyên môi trường thành phố T đã có văn bản trả lời ranh giới giữa hai gia đình là một đường thẳng không có lối đi ở giữa. Gia đình anh B2 không nghe mà cắm cọc để xác định phần đất của gia đình anh B2 gần sát với tường nhà bà và sử dụng để làm lối đi ra đường kênh E3.

Thực tế diện tích đất hiện tại gia đình nhà bà đang sử dụng nhiều hơn so với diện tích đất được cấp trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nhưng khi được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ bà không để ý) và bà có hỏi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì được hướng dẫn làm đề nghị cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng do đang có tranh chấp nên chưa được cấp đổi.

Về phần đất của gia đình anh B2 từ khi bố bà còn sống gia đình anh B2 đã xây nhà và tường bao xung quanh cùng các công trình phụ trợ trên đất và sử dụng từ đó cho đến nay và gia đình anh B2 từ trước vẫn đi lối đi ngõ trên xóm. Chỉ đến khi mở đường ở kênh E thì gia đình anh B2 trổ cửa đi vào phần đất của gia đình bà. Khi xây tường năm 2004 thì gia đình anh B2 có gọi bố bà ra làm giấy giao kèo khi hai nhà làm nhà thì mỗi bên bớt lại 20cm để làm hè và hai bên đã đồng ý thống nhất như vậy và chị P là vợ anh B2 là người viết.

Bà khẳng định ranh giới đất giữa gia đình bà và gia đình nhà anh B2, chị P là một đường thẳng, không có lối đi ở giữa.

Nay bà T khởi kiện đề nghị Tòa án yêu cầu gia đình vợ chồng anh B2, chị P trả lại cho gia đình bà khoảng 24m² đất (chiều dài 6m, chiều rộng 4m) và không được trổ cửa đi sang phần đất của gia đình nhà bà, đồng thời tháo dỡ các vật dụng nằm sang phần đất của gia đình bà. Ngoài ra bà không có yêu cầu nào khác.

Bị đơn là ông Nguyễn Văn B trình bày: Về nguồn gốc thửa đất ông đang sử dụng là của hộ bà Ngô Thị X (là mẹ đẻ ông) được cấp từ năm 1980. Năm 1998 UBND huyện T đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ mẹ ông là hộ bà Ngô Thị X thửa đất số 184, tờ bản đồ số 5, diện tích 441m². Ngày 27/6/2014, ông nhận tặng cho quyền sử dụng đất thửa đất nêu trên từ hộ bà Ngô Thị X. Trên đất gia đình ông đã xây dựng công trình nhà ở, công trình phụ trợ và tường bao quanh.

Nhà ông đi hai cổng, một cổng đi ra muơng E3, cổng thứ hai từ ngõ rinh đi vào. Nay nhà ông sửa cổng đi ra rộng hơn để đi ra phía sau đất của nhà ông để đi ra lối mương E3 nhưng vẫn là đất sử dụng riêng được cấp của nhà ông để làm lối đi ra đường bê tông do xã làm đến gần sát đất ở của nhà ông, do chương trình nông thôn mới bê tông hóa đường giao thông nông thôn của UBND thị xã T giao cho UBND xã T thực hiện thi công xây dựng tại xóm X, xã T (Đây là lối đi từ khi cấp đất chỉ có một mình nhà ông đi lại bằng lối đi này. Vì khi đó xung quanh toàn là ao sâu, phía trước đã đào đất làm lò vì đã đào đất để làm gạch của HTX N3 nên không có đường đi đằng trước, sau này mới có đường đi trong xóm. Nhà bà T hiện nay nằm hoàn toàn vào bờ lũy tre ao cá của HTX N3 (gọi là ao ông T1. Cụ T3) được cấp đất cùng thời điểm với mẹ con ông, đất nhà ông T1 có tổng diện tích là 663m² đất ở nông thôn lâu dài. Lối đi lại sinh hoạt đều đi vào - đi ra từ trong xóm X vào ngõ ông T1 dọc theo nhà cụ P1, ông T1, cụ T4, chị T2 (Nay bán 77m² nhà đất cho bà L3 là chị ruột ông) nhà chị L2 đi thẳng vào qua đất ông T1 cho anh Q1 con trai út của ông T1 vào nhà bà T và ngược lại, chứ nhà bà T không có đường đi ra bờ mương E3, đi chung với nhà ông. Năm 2003 ông T1 cho bà T đất để làm nhà ở riêng. Ngày 26/01/2006, bà T được UBND huyện T cấp GCNQSD đất diện tích 200m², từ đó đến nay bà T đi lại sinh hoạt theo lối đi như ông đã trình bày trên.

Nay bà T lại làm đơn khởi kiện ông ra Tòa án đòi thêm 24 m² đất của nhà ông là vô lý, đất của nhà ông còn đến phía sau nhà ông rộng 3,5m, dài 30m, tiếp giáp theo bản do địa chính cấp là một đường thẳng dọc theo thửa đất nhà ông T1 (đã cho bà T, ông Q1) do mẹ ông để lại cho chị gái ông là L3 để làm nhà, nay chị ông đã mua được đất của em gái bà T nên mẹ ông cho ông sở hữu hết 441m² đất này. Trước đó xã T đã hòa giải yêu cầu ông tạm dừng việc làm đường phía sau nhà, nên ông tạm thời dừng lại để làm đơn khởi kiện sau.

Nay ông đề nghị giữ nguyên hiện trạng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho gia đình ông năm 1998 và có lối đi dọc ra mương E3.

Theo ông B thì đất của nhà ông còn đến phía sau nhà ông rộng 3,5m, dài 30m, tiếp giáp theo bản do địa chính cấp là một đường thẳng dọc theo thửa đất nhà ông T1 (đã cho bà T, ông Q1), không chỉ có phần giáp ranh với đất nhà bà T đang khởi kiện mà còn giáp ranh với đất nhà ông Q1 đều là đất của nhà ông. Ông đã được Tòa án giải thích có yêu cầu giải quyết trong vụ án này không, nhưng ông chưa yêu cầu giải quyết.

Mẹ ông hiện đã theo con gái là bà Nguyễn Thị L3 vào ở trong Đắc Lăk nhưng ông không biết địa chỉ cụ thể như thế nào, bà L3 cũng như mẹ ông không cho ai biết địa chỉ. Mẹ ông đã tặng cho ông quyền sử dụng thửa đất nêu trên, do vậy mẹ ông không có liên quan gì đến việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà T, ông Q1 với ông.

Bà Ngô Thị P là vợ ông B trình bày: Nhất trí với trình bày và quan điểm của ông B.

Ông Ngô Minh Q trình bày: Bố mẹ ông là cụ Ngô Văn T1, sinh năm 1926 (đã mất) và cụ Nguyễn Thị H2, sinh năm 1932 (đã mất).

Bố mẹ ông có 01 thửa đất số 186, tờ bản đồ 05, diện tích 663m² được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1998 cho hộ ông Ngô Văn T1.

Năm 2006, bố ông đã tách thửa đất trên thành 03 thửa đất và tặng cho các con là chị Ngô Thị T, chị Ngô Thị T2 và ông Ngô Văn Q1. Phần đất bố ông cho ông đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thửa đất số 186, tờ bản đồ 05, diện tích 340m², chị Ngô Thị T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 326, tờ bản đồ 05, diện tích 200m² và chị T2 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 325, tờ bản đồ 05, diện tích 77m². Phần đất bố ông cho ông thì ông chưa xây dựng gì trên đất mà chỉ trồng rau màu, cây ăn quả. Còn phần đất của chị T đã xây dựng 01 ngôi nhà cấp 4 cùng công trình phụ và sử dụng từ đó cho đến nay. Phần đất của chị Ngô Thị T2 thì chị T2 đã bán cho chị L3 là chị gái anh B nhưng phần đất này không liên quan gì đến ranh giới giữa thửa đất của gia đình ông, gia đình chị T với gia đình anh B. Trên thực tế diện tích ông đang sử dụng có diện tích nhiều hơn so với diện tích trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng khi được cấp sổ đỏ ông không để ý vì từ khi ông được bố ông tặng cho đất ông vẫn sử dụng và không có tranh chấp với ai. Mặt khác, toàn bộ tường bao quanh khu đất nhà ông là do các hộ giáp ranh xây dựng xác định mốc giới sử dụng từ trước đến nay của các gia đình.

Về phần đất của gia đình anh B thì năm 1995 gia đình anh B đã xây dựng nhà và công trình phụ trợ cùng tường xây bao quanh. Khi gia đình anh B xây dựng nhà thì hai gia đình thỏa thuận và có lập giao kèo mỗi nhà bớt lại 20 cm, tổng cộng hai nhà bớt lại là 40cm để có lối khi cần sửa chữa nhà. Quá trình sử dụng đất gia đình anh B đi ngõ đi trong xóm. Chỉ đến khi mở đường ở kênh E thì gia đình anh B trổ cửa đi qua phần đất của gia đình chị T nên hai bên đã xảy ra tranh chấp.

Anh B cho rằng phần đất của anh B còn đến phía sau nhà rộng 3,5m, dài 30m tiếp giáp theo bản đồ địa chính cấp là một đường thẳng dọc theo thửa đất nhà ông T1 (bố tôi) đã tặng cho ông và chị T là không đúng. Ranh giới các thửa đất đã được thể hiện trên bản đồ địa chính và khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các hộ đã ký giáp ranh. Tòa án đã giải thích rõ việc anh B cho rằng đất nhà anh B còn chiều rộng 3,5m, dài 30m kéo dài đến hết đất nhà ông nhưng gia đình ông từ trước đến nay vẫn quản lý sử dụng trồng cây và rau màu không có tranh chấp với gia đình anh B nên ông không có yêu cầu giải quyết. Nếu anh B tranh chấp với nhà ông phần đất giáp ranh như anh B trình bày thì sẽ giải quyết sau, ông không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

Việc tranh chấp xảy ra giữa hai bên đã được UBND xã T giải quyết và đã xác định: Ranh giới cạnh tiếp giáp đất ở của anh B với ông Q1, bà T theo hướng Đông Nam có chiều dài 30m² là nét liền thẳng, không có ngõ đi.

Đối với yêu cầu Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do trước đây ông thấy diện tích cấp trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng với diện tích đất mà ông đang sử dụng nên ông đã yêu cầu. Nhưng nay, qua tìm hiểu ông được biết Bản đồ đo vẽ năm 2014 thì thửa đất ông đang sử dụng là thửa số 40, tờ bản đồ 83, diện tích 412,5m² và sẽ được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, ông rút yêu cầu đối với việc Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Bà Thang Thị B1 trình bày: Bà nhất trí với lời trình bày và quan điểm của chồng bà là ông Ngô Minh Q.

Anh Ngô Minh Đ trình bày: Anh là con trai của ông Ngô Minh Q và bà Thang Thị B1, hiện tại anh đang sống cùng với bố mẹ anh tại Xóm xanh, khu phố T, phường T, thành phố T. Về nguồn gốc thửa đất số 186, tờ bản đồ số 05, diện tích 340m² tại xóm X, khu phố T, phường T, tỉnh Bắc Ninh theo anh được biết là của ông bà nội anh tặng cho bố anh. Quá trình sử dụng đất gia đình anh vẫn sử dụng làm nơi trồng rau màu, cây thuốc và gia đình anh chưa ở nên chưa xây dựng gì trên đất. Toàn bộ tường xây bao quanh khu đất là của các hộ giáp ranh xây dựng. Việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa gia đình bác Ngô Thị T và gia đình ông B anh không biết và không có liên quan gì. Anh nhất trí với quan điểm của bố mẹ anh.

Tại biên bản lấy lời khai - chị Ngô Thu H1 (ông Q, bà B1 là đại diện theo pháp luật) trình bày: Chị là con gái của ông Ngô Minh Q và bà Thang Thị B1, hiện tại chị đang sống cùng với bố mẹ chị tại Xóm xanh, khu phố T, phường T, thành phố T. Về nguồn gốc thửa đất số 186, tờ bản đồ số 05, diện tích 340m² tại xóm X, khu phố T, phường T, tỉnh Bắc Ninh theo chị được biết là của ông bà nội chị tặng cho bố chị là Ngô Minh Q. Quá trình sử dụng đất gia đình chị xây dựng gì trên đất mà chỉ sử dụng để trồng rau màu và cây thuốc. Việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa gia đình bác Ngô Thị T và gia đình ông B chị không biết và không có liên quan gì.

Anh Nguyễn Văn L trình bày: Bố mẹ anh là ông Nguyễn Văn B và bà Ngô Thị P, hiện tại anh đang sống cùng với bố mẹ anh. Việc tranh chấp đất đai giữa gia đình anh và gia đình bà T anh có được biết. Nguồn gốc thửa đất mà gia đình anh đang sử dụng là của bà nội anh tặng cho bố anh, trên đất có ngôi nhà 2 tầng cùng các công trình phụ trợ. Gia đình anh có 2 lối đi (một lối đi trên xóm và một lối đi ra kênh E3). Anh nhất trí với lời trình bày và quan điểm của bố mẹ anh.

Tại biên bản lấy lời khai - anh Nguyễn Văn L1 trình bày: Anh là con trai út của ông Nguyễn Văn B và bà Ngô Thị P. Việc tranh chấp đất đai giữa gia đình anh và gia đình bà T anh có được biết, anh không có liên quan gì. Nguồn gốc thửa đất mà gia đình anh đang sử dụng là của bà nội anh tặng cho bố anh. Trên đất có nhà, công trình phụ trợ và tường bao quanh còn ai xây dựng anh không biết, anh không có công sức đóng góp gì. Từ trước đến nay gia đình anh có đi cổng chính là đường trên xóm, còn cổng mở phía sau nhà bà T trước đây thỉnh thoảng gia đình anh có đi nhưng lối đi nhỏ lại là đường đất nên gia đình anh không thường xuyên đi lối này. Anh xin vắng mặt tại các buổi làm việc, phiên tòa xét xử.

Anh Lê Phương N trình bày: Anh là con trai của bà Ngô Thị T, hiện tại vợ chồng anh đang sống cùng với mẹ anh tại thửa đất số 326, tờ bản đồ số 05 tại Xóm xanh, khu phố T, phường T, thành phố T. Về nguồn gốc thửa đất mà gia đình anh đang sinh sống của ông ngoại anh là ông Ngô Văn T1 tặng cho mẹ anh. Quá trình sinh sống cùng với mẹ anh trên thửa đất này vợ chồng anh không xây dựng hay tôn tạo sữa chữa và không có công sức đóng góp gì. Anh đồng ý với phần trình bày và quan điểm của mẹ anh.

Tại biên bản lấy lời khai - chị Lê Đặng Hồng N1 trình bày: Chị là con dâu của bà Ngô Thị T, hiện tại vợ chồng chị đang sống cùng với bà T tại thửa đất số 326, tờ bản đồ số 05 tại Xóm xanh, khu phố T, phường T, thành phố T. Năm 2022 chị kết hôn với anh Lê Phương N và về sống chung cùng gia đình anh N từ đó cho đến nay. Về nguồn gốc thửa đất cũng như quá trình sử dụng đất chị không biết. Chị chỉ biết sau khi kết hôn thì chị về sống chung cùng với gia đình chồng trong ngôi nhà cấp 4 như hiện nay. Quá trình sống trên đất chị không có xây dựng hay tôn tạo sữa chữa gì. Việc tranh chấp đất giữa mẹ chồng chị với gia đình ông Nguyễn Văn B là hàng xóm chị không biết và không có liên quan gì nên không có ý kiến.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc thửa đất, định giá đất và tài sản trên đất. Đồng thời, Tòa án cũng tiến hành hòa giải giữa các đương sự. Tuy nhiên, các đương sự không hòa giải được nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Từ những nội dung trên bản án sơ thẩm đã căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, khoản 1 Điều 165, Điều 217, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 158, 164, 175 và 176 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị T.
    • Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn B, bà Ngô Thị P phải trả cho bà Ngô Thị Toàn P2 đất lấn chiếm tọa lạc tại thửa đất số 326, tờ bản đồ số 05 tại xóm X, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, theo số đo thực tế có diện tích là 28,4m2, có tứ cận như sau (Có sơ đồ kèm theo bản án):
      • Phía Đông Bắc giáp thửa 176 được giới hạn bởi điểm A3, A4, A6 có số đo: A3-A4 là 2,48m; A4-A6 là 0,9m.
      • Phía Tây Bắc giáp thửa 326 của nhà bà Ngô Thị T được giới hạn bởi điểm A3, A8 có số đo là 9,2m.
      • Phía Tây Nam giáp thửa 186 của nhà ông Ngô Minh Q được giới hạn bởi điểm A7, A8 có số đo là 3,17m.
      • Phía Đông Nam giáp thửa 184 của nhà ông Nguyễn Văn B được giới hạn bởi điểm A6, A7 có số đo là 8,33m.
    • Gia đình ông Nguyễn Văn B, bà Ngô Thị P không được trổ cửa đi sang phần đất của gia đình nhà bà T, đồng thời tháo dỡ các vật dụng nằm sang phần đất của gia đình bà T theo diện tích trên.
  2. Đình chỉ yêu cầu Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Ngô Minh Q.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 04/10/2024, ông Nguyễn Văn B kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn là bà T giữ nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông B và bà P phải trả lại cho gia đình bà phần đất đã lấn chiếm và tháo dỡ các vật dụng nằm tren phần đất của gia đình bà.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày năm 1981 bà X là mẹ ông B cùng một số hộ được chính quyền đại phương cấp GCNQSDĐ và 01 lối đi theo đường kênh E3, lối đi trên giáp đất gia đình ông T1 là bố bà T, đến năm 95-96 đất của gia đình bà X là 441,2m² tăng 0,2m² nên đề nghị giữ nguyên hiện trạng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho gia đình ông B năm 1998 và có lối đi dọc ra mương E3. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn khởi kiện của bà T về việc buộc ông B và bà P phải tra lại diện tích đất là 28,4m². Ông B và bà P nhất trí với lời trình bày của bà H.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Q, bà B1, anh Đ, anh N và chị N1 vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày và đề nghị giải quyết chấp nhận đơn khởi kiện của bà T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của ông B giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]: Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn B nộp trong hạn luật định, đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng nên được xem xét giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm.

[2]. Về nội dung:

Bà Ngô Thị T và ông Nguyễn Văn B là hàng xóm. Năm 2006, gia đình bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 326, tờ bản đồ số 05, diện tích 200m² tại xóm X, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Nguồn gốc thửa đất là của bố đẻ bà T là cụ Ngô Văn T1 cho bà vào năm 2003. Năm 1998 mẹ ông B là bà Ngô Thị X được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 184, tờ bản đồ số 5, diện tích 441m². Ngày 27/6/2014 bà X tặng cho ông B thửa đất trên.

Theo nguyên đơn năm 2008 bà T đã xây một ngôi nhà cấp 4 trên thửa đất, khi xây dựng bà không làm hết đất mà để lại một phần diện tích ở phía sau nhà, toàn bộ tường xây bao quanh đất là do các hộ giáp ranh xây và gia đình bà T vẫn sử dụng từ trước cho đến khi xảy ra tranh chấp. Đến khi mở đường ở kênh E thì đến tháng 3/2018 gia đình anh B trổ cửa đi sang phần đất của gia đình nhà bà T, bà không đồng ý cho đi sang phần đất của gia đình bà nên hai bên đã xảy ra tranh chấp. Mặc dù đã được hòa giải tại UBND xã T nhưng anh B vẫn cố tình đổ cát, đua những thanh sắt thép gần 1m, trổ lối đi sang phần đất nhà bà, tân lấn phần đất thuộc về nhà bà.Vì vậy bà T khởi kiện yêu cầu gia đình vợ chồng anh B, chị P trả lại cho gia đình bà khoảng 24m² đất (chiều dài 6m, chiều rộng 4m) và không được trổ cửa đi sang phần đất của gia đình bà, đồng thời tháo dỡ các vật dụng nằm sang phần đất của gia đình bà.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Ngô Minh Q có yêu cầu độc lập đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất của gia đình ông tuy nhiên ông Q đã rút yêu cầu đối với việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên.

Tòa án cấp sơ thẩm xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị T: Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn B, bà Ngô Thị P phải trả cho bà Ngô Thị Toàn P2 đất lấn chiếm tọa lạc tại thửa đất số 326, tờ bản đồ số 05 tại xóm X, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, theo số đo thực tế có diện tích là 28,4m2, có tứ cận như sau (Có sơ đồ kèm theo bản án); Gia đình ông Nguyễn Văn B, bà Ngô Thị P không được trổ cửa đi sang phần đất của gia đình nhà bà T, đồng thời tháo dỡ các vật dụng nằm sang phần đất của gia đình bà T theo diện tích trên.

- Đình chỉ yêu cầu Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Ngô Minh Q.

Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xử, bị đơn là ông Nguyễn Văn B kháng cáo toàn bộ bản án.

Xét kháng cáo của ông B, Hội đồng xét xử thấy:

Căn cứ vào hồ sơ thửa đất năm 1989 thì phần cuối của đường giáp ranh lệch về phía đất của bà T, giữa hai thửa đất có 01 lối đi; hồ sơ thửa đất năm 1996 thì thể hiện phần đường giáp ranh là một đường thẳng lệch vào phía đất nhà ông B, phần lối đi đã không còn; đến năm 1998 khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đường giáp ranh nằm sát với phần hiện trạng sử dụng của gia đình ông B, phần lối đi đã không còn. Như vậy có thể thấy phần đường giáp ranh có hình thể không đồng nhất qua các thời kỳ. Do sơ đồ thửa đất các năm không đồng nhất nên không thể xác định sơ đồ nào là sơ đồ chính xác nhất. Tuy nhiên, năm 1996 khi làm hồ sơ và được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ năm 1998 giữa hai gia đình đã được biết về hình thái thửa đất, số đo các cạnh, diện tích và vị trí giáp ranh... cụ Ngô Thị X - là mẹ ông B sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã không có ý kiến gì, ông B và gia đình đã sống trên thửa đất cũng không có khiếu nại gì từ năm 1998 đến nay. Mặt khác tại Công văn số 69/UBND-TCD ngày 16/5/2019 của UBND xã T đã xác định: “mặc dù trên bản đồ năm 1995 có thể hiện lối đi từ kênh tiêu E3 vào thẳng đất của gia đình bà X, xong thực tế vị trí lối đi này không trùng khớp với lối đi gia đình bà X đã đi nhiều năm nay. Hiện vị trí lối đi đang tranh chấp với gia đình bà T và vị trí của đi gia đình bà X cải tạo, mở rộng năm 2019 để đi ra kênh tiêu E3... nằm hoàn toàn trên đất của gia đình bà T”. Như vậy có thể thấy quá trình sử dụng đất các cạnh giáp ranh giữa gia đình bà T và ông B đều không thay đổi. Mặt khác, năm 2013 ông B đã được tặng cho Quyền sử dụng đất và đăng ký biến động sang tên chủ sử dụng đất là thửa đất nêu trên. Gia đình ông B đã xây dựng công trình nhà ở, phụ trợ khép kín bao gồm tất cả các hướng giáp ranh mà không có bất kỳ ý kiến nào. Nên việc ông B cho rằng nhà anh còn đất ở phía sau giáp nhà bà T là không có căn cứ.

Đối với việc bị đơn cho rằng diện tích đất của bà T tăng lên là do lấn chiếm đất của gia đình bị đơn: Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích nhà bà T 200m², hiện trạng thực tế 302m² tăng do lấn chiếm đất ao, không liên quan đến cạnh giáp nhà ông B.

Diện tích nhà ông B Theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất năm 1996, diện tích thực tế của ông B sử dụng là 413,6m² (giảm so với Giấy chứng nhận đã cấp năm 1998 là do sai số, cạnh giáp ranh giữa 3 hộ ông B, bà T, ông Q ổn định). Trong quá trình sử dụng từ năm 1995-2014 có tăng thêm 26,7m² về phía ao (phía Đông thửa đất).

Theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất năm 1996 diện tích nhà ông B là 441m², diện tích thực tế của ông B đang sử dụng là 413,6m² (giảm so với Giấy chứng nhận đã cấp năm 1998) nguyên nhân là do sai số trong quá trình đo đạc, còn cạnh giáp ranh giữa 3 hộ ông B, bà T, ông Q ổn định, không có thay đổi.

Từ những phân tích trên có thể thấy thửa đất nhà ông Q, bà T đang sử dụng mặc dù có sự thay đổi về diện tích nhưng hình thể và các cạnh vẫn giữ nguyên không thay đổi do đó Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc gia đình ông B phải trả lại cho gia đình bà T 28,4m² đất là có căn cứ.

Ông B là người kháng cáo tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của ông B là bà H cung cấp cho Hội đồng xét xử một số biên bản xác minh đối với hàng xóm của ông B và bà T, nhưng biên bản xác minh đó không có đủ căn cứ để chấp nhận, do vậy xác định ông B kháng cáo nhưng không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ do đó cần bác toàn bộ kháng cáo của ông B.

Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 44/2024/DSST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

[3]. Về án phí: Ông Nguyễn Văn B phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn B, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 44/2024/DSST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn.
  2. Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn B phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003874 ngày 04/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Từ Sơn.
  3. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 44/2024/DSST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND thành phố Từ Sơn;
  • - Chi cục THADS thành phố Từ Sơn;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2025/DS-PT ngày 06/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 75/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger