Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KHOÁI CHÂU

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HSST

Ngày: 27/8/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Trung.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Oanh và bà Vũ Thị Tịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 27/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2024/TLST-HS ngày 14/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2024/QĐXXST-HS ngày 15/8/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 2000; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: thôn T, xã A, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn N, sinh năm 1979; Con bà: Ma Thị T, sinh năm 1976; Anh chị em ruột: có 03 anh em, bị cáo là lớn nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Chưa; Tiền án: Ngày 09/3/2021 bị Toà án nhân dân huyện Khoái Châu xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt ngày 19/01/2023. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 04/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H. (bị cáo có mặt tại phiên toà)

* Người bị hại:

  1. Anh Nguyễn Như H1, sinh năm 1998
    Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
  2. Anh Đặng Đức H2, sinh năm 1994
    Trú tại: Thôn T, xã V, huyện G, thành phố Hà Nội.
  3. Anh Trần Minh Q, sinh năm 2000
    Trú tại: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Lê Văn N1, sinh năm 1986
  2. Anh Trịnh Văn C, sinh năm 1986
    Đều trú tại: Thôn Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
  3. Anh Nguyễn Như K, sinh năm 1990
    Trú tại: Thôn B, xã T, huyện C, tỉnh Hưng Yên

Tại phiên tòa: Anh Q có mặt. Anh H1, anh H2, anh N1, anh C và anh K vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 25/5/2024, Nguyễn Văn H đi bộ một mình đến quán internet có tên là “ST Gamming” của chị Lê Thị Thu T1 ở thôn B, xã T, huyện K để chơi game. Đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, H đi ra bên ngoài cửa quán thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 89F1-419.90 của anh Trần Minh Q dựng trong khu lán xe nhà chị T1 không khoá cổ, khoá càng. Quan sát xung quanh không có người trông giữ nên H nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe nêu trên để bán lấy tiền tiêu xài. H lại gần rồi dắt chiếc xe này về hướng xã D, huyện K. Khi đã đi xa quán internet thì H dừng lại, cậy cốp xe mô tô biển số 89F1-419.90 kiểm tra, thấy bên trong có 01 bộ quần áo mưa màu xanh đen. Lúc này, H tháo biển số xe rồi vứt đi cùng bộ quần áo mưa ở dọc đường. Sau đó, Huy đấu lại dây điện để nổ máy rồi điều khiển xe mô tô đến quán “Karaoke L” ở thị trấn K, huyện K bán xe. Tại đây, H gặp anh Nguyễn Như K ở thôn B, xã T, huyện K. Khi bán, H nói chiếc xe mô tô biển số 89F1-419.90 là của H nhưng xe không có giấy tờ vì mới bị Công an giao thông thu giữ, còn chìa khoá và biển số xe thì bị rơi mất. Tin tưởng H nói thật nên anh K đã đồng ý mua chiếc xe trên với giá 3.000.000đ. Sau đó, anh K đã bán lại chiếc xe này cho một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ với giá 3.500.000đ. Số tiền có được do bán xe, H đã sử dụng để mua ma tuý và chi tiêu cá nhân hết.

Sau khi phát hiện xe mô tô của mình bị mất trộm, anh Q đã trích xuất đoạn camera ghi lại hình ảnh H trộm cắp xe đăng tải lên mạng xã hội Facebook thì được cung cấp thông tin người thực hiện vụ trộm cắp là Nguyễn Văn H. Ngày 03/6/2024 anh Q đã làm đơn trình báo Công an xã T về việc bị mất chiếc xe mô tô biển số 89F1-419.90, trong cốp xe mô tô có để số tiền 5.000.000đ trong bộ Q1, nguồn gốc số tiền do anh Q lao động mà có, khi để số tiền 5.000.000đ chỉ có một mình anh Q biết. Công an xã T đã tiến hành xác minh, thu thập dữ liệu điện tử từ camera tại quán internet của gia đình chị T1, niêm phong trong 01 chiếc USB. Đồng thời tiến hành lấy lời khai của Nguyễn Văn H thì H thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Cùng ngày, Công an xã T đã chuyển nguồn tin về tội phạm nêu trên đến cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K để xử lý theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện K điều tra làm rõ: Với thủ đoạn nêu trên vào các ngày 23/5/2024 và 31/5/2024, H còn thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn xã Đ, huyện K, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 12 giờ ngày 23/5/2024, H đi bộ một mình đến quán internet của gia đình ông Chu Ánh D ở thôn Đ, xã Đ, huyện K chơi game. Tại đây H phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu FANLIM, biển số 66K8-9861 của anh Nguyên Như H3 vẫn cắm chìa khoá điện dựng trước cửa quán nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này. Do vậy, H không chơi game nữa và đi ra phía ngoài quán internet để quan sát. Thấy xung quanh không có người trông giữ nên H lại gần chiếc xe, dắt xe ra cổng rồi ngồi lên xe, điều khiển xe về hướng huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Trên đường đi, H dừng lại, tháo biển số của xe rồi vứt đi. Sau đó H điều khiển xe đến cửa hàng mua bán phế liệu “Minh Cường” của anh Lê Văn N1 ở thôn Y, xã Y, huyện Y. Khi gặp anh N1, H nói chiếc xe mô tô nêu trên là của H dùng để đi làm công trình nhưng đã cũ nên muốn bán. Anh N1 đồng ý mua chiếc xe trên với giá là 850.000đ. Sau đó, anh N1 bán lại chiếc xe này cho anh Trịnh Văn C ở cùng thôn với giá 1.000.000đ. Số tiền có được do bán xe, H đã chi tiêu cho bản thân hết.

Ngày 04/6/2024 anh C đã giao nộp chiếc xe nhãn hiệu FANLIM, biển số 66K8-9861 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K.

Vụ thứ hai: Khoảng 09 giờ ngày 31/5/2024, H đi bộ đến thôn Đ, xã Đ, huyện K nhằm mục đích tìm kiếm người dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi qua phòng trọ của anh Trần Văn N2 thuê ở thôn Đ, xã Đ thì H phát hiện có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 29N1-626.03 được xác định của anh Đặng Đức H2 ở thôn T, xã V, huyện G, thành phố Hà Nội dựng phía trước cửa phòng. Quan sát thấy chiếc xe mô tô biển số 29N1-626.03 vẫn cắm chìa khoá điện và xung quanh không có ai trông coi, quản lý nên H tiến lại gần chiếc xe, vặn chìa khoá điện rồi điều khiển xe đi về đến đoạn đường vắng thuộc xã D, huyện K thì tháo biển số xe vứt vào cốp xe và tiếp tục sử dụng chiếc xe này làm phương tiện đi lại. Đến ngày 04/6/2024, khi đến làm việc tại cơ quan Công an, H đã giao nộp chiếc xe nêu trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 19 ngày 11/6/2024; số 21 và 22 cùng ngày 11/7/2024 của Hội đồng định giá kết luận:

  • Giá trị thị trường của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave biển kiểm soát 29N1-626.03 đã qua sử dụng tại thời điểm định giá là 11.167.000đ.
  • Giá trị thị trường của chiếc xe mô tô nhãn hiệu FALIN biển kiểm soát 66K8-9861 đã qua sử dụng tại thời điểm định giá là 1.600.000đ.
  • Giá trị thị trường của chiếc xe mô tô Honda wave biển kiểm soát 89F1-419.90 đã qua sử dụng tại thời điểm định giá là 10.250.000đ.

Ngày 19/6/2024, Cơ quan điều tra đã trao trả anh Đặng Đức H2 chiếc xe mô tô biển số 29N1-626.03; Trả anh Nguyễn Như H1 chiếc xe mô tô nhãn hiệu FANLIM.

Ngày 20/6/2024, cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm vật chứng đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda wave của anh Trần Minh Q.

Đối với chiếc biển số 66K8-9861 của anh H1; chiếc biển số 89F1-419.90 và 01 bộ quần áo mưa màu xanh đen của anh Q do H không nhớ địa điểm vứt đi nên không có căn cứ để truy tìm.

Cáo trạng số: 86/CT-VKSKC ngày 14/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
  • Anh Q yêu cầu bị cáo bồi thường cho anh giá trị chiếc xe máy như kết luận của Hội đồng định giá, còn số tiền anh để trong áo mưa anh không yêu cầu bồi thường. Bị cáo nhất trí bồi thường như yêu cầu của anh Q.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 04/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Buộc bị cáo bồi thường cho anh Q số tiền 10.250.000đ, truy thu của bị cáo số tiền 850.000đ. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
  • Bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận gì. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, hai người bị hại và những người liên quan vắng mặt. Qua xem xét sự vắng mặt của họ, Tòa án đã triệu tập, tống đạt hợp lệ nên xét thấy việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo không yêu cầu hoãn phiên tòa. Sau khi thảo luận tại phòng xử án, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3]. Chứng cứ xác định có tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án như: Bản ảnh, biên bản kiểm tra xác định nơi xảy ra vụ việc; Lời khai của bị cáo, người bị hại, của người liên quan và của những người làm chứng trong quá trình điều tra, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ để kết luận:

  • Khoảng 12 giờ ngày 23/5/2024, tại quán internet của gia đình ông Chu Ánh D, Nguyễn Văn H đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu FANLIM, biển số 66K8-9861 trị giá 1.600.000đ của anh Nguyên Như H3.
  • Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 25/5/2024 tại quán internet “ST Gamming” của chị Lê Thị Thu T1 ở thôn B, xã T, huyện K, Nguyễn Văn H có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 89F1-419.90 trị giá 10.250.000đ của anh Trần Minh Q.
  • Khoảng 09 giờ ngày 31/5/2024 tại phòng trọ của anh Trần Văn N2 ở thôn Đ, xã Đ, huyện K, Nguyễn Văn H có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 29N1-626.03 trị giá 11.167.000đ của anh Trần Văn N2.

Các hành vi nêu trên của bị cáo H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu đã truy tố Nguyễn Văn H theo tội danh và điều luật áp dụng trong Cáo trạng số: 86/CT-VKSKC ngày 14/8/2024 là có căn cứ, đúng người đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình nhưng vì muốn có tiền để tiêu sài cá nhân đã cố ý phạm tội, thể hiện bị cáo không chịu rèn luyện bản thân nên cần xử lý nghiêm.

  • Đối với số tiền 5.000.000₫ anh Q khai báo có để trong bộ quần áo mưa trong cốp xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 89F1-419.90 tại thời điểm bị H trộm cắp xe. Khi cất số tiền 5.000.000đ trong cốp xe chỉ có một mình anh Q biết. Quá trình điều tra xác định, khi trộm cắp được chiếc xe mô tô biển số 89F1-419.90, H mở cốp xe và vứt bộ quần áo mưa đi nhưng không kiểm tra bên trong bộ quần áo mưa có tiền hay không. H không thừa nhận đã trộm cắp số tiền 5.000.000đ nên không có căn cứ xử lý đối với H về hành vi trộm cắp số tiền 5.000.000₫.
  • Đối với anh Nguyễn Như K, Lê Văn N1, Trịnh Văn C khi mua xe đều không biết nguồn gốc của những chiếc xe này là do H trộm cắp mà có. Do vậy không có căn cứ để xử lý đối với anh K, N1 và C.
  • Đối với người đã bán ma tuý cho H, do H không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xác minh, xử lý nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[4]. Đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

  • Tiền án: Ngày 09/3/2021 bị cáo H bị Toà án nhân dân huyện Khoái Châu xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn H thực hiện hành vi trộm cắp 02 lần trở nên; Bị cáo đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội nên bị cáo phải chịu các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, với đặc điểm nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã phân tích ở trên thấy cần thiết phải cho cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, lao động tự do, không có thu nhập ổn định, kinh tế gia đình khó khăn, không có tài sản riêng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng: Ngày 19/6/2024, Cơ quan điều tra đã trao trả anh Đặng Đức H2 chiếc xe mô tô biển số 29N1-626.03; Trả anh Nguyễn Như H1 chiếc xe mô tô nhãn hiệu FANLIM. Ngày 20/6/2024, cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm vật chứng đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda wave của anh Trần Minh Q nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Đối với anh Nguyên Như H3, Lê Văn N1, Trịnh Văn C và anh Đặng Đức H2 không yêu cầu về phần trách nhiệm dân sự nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Tại phiên toà bị hại là anh Trần Minh Q có yêu cầu bị cáo phải thường số tiền mà bị cáo đã trộm chiếc xe Honda Wave, biển số: 89F1-419.90 là 10.250.000đ, còn số tiền 5.000.000₫ anh để trong áo mưa để trong cốp xe anh không yêu cầu. Bị cáo đồng ý bồi thường cho anh Q như anh yêu cầu nên buộc bị cáo H phải bồi thường cho anh Q số tiền là 10.250.000đ.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, anh Trần Minh Q có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ nói trên thì phải chịu lãi chậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của BLDS năm 2015.

[8]. Về biện pháp tư pháp: Chiếc xe FANLIM biển số 66K8-9861 bị cáo lấy của anh H3, sau đó mang đến bán cho anh N1 được 850.000đ. Anh N1 bán lại chiếc xe này cho anh C với giá 1.000.000đ. Số tiền có được do bán xe, bị cáo H đã chi tiêu cho bản thân hết. Nay anh N1 và anh C không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, HĐXX xác định đây là số tiền do phạm tội mà có nên sẽ truy thu 850.000₫ của bị cáo để sung ngân sách nhà nước.

[9]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí trách nhiệm dân sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. 1. Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/6/2024.

  2. 2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của BLHS; Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 590 của BLDS.

    Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải bồi thường cho anh Trần Minh Q số tiền là 10.250.000đ. Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp, nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền nêu trên thì phải chịu lãi theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của BLDS.

  3. 3. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 điều 46, điểm b khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự. Truy thu của bị cáo 850.000₫ sung ngân sách nhà nước.
  4. 4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và án phí trách nhiệm dân sự là 512.500đ (Năm trăm mười hai nghìn năm trăm đồng).
  5. 5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • Phòng KTNV&THA-TAND tỉnh HY.
  • VKSND tỉnh Hưng Yên.
  • CA huyện Khoái Châu.
  • VKS huyện Khoái Châu.
  • Chi cục THADS huyện Khoái Châu.
  • UBND xã An Vĩ;
  • Những người tham gia tố tụng;
  • Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Tiến Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HSST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 75/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA hình sự Nguyễn Văn H tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger