|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH Bản án số: 75/2024/HSST Ngày 10/5/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thế Long - Giáo viên nghỉ hưu
2. Ông Kiều Văn Dậu - Cán bộ hưu
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Mai Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên toà: Bà Lưu Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 10/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Phong xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2024/HSST, ngày 27/3/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HS, ngày 25/4/2024 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Trường G, sinh ngày 21/3/2005; HKTT: Thôn Â, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị H (tên gọi khác là Nguyễn Thị N), sinh năm 1984; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến ngày 05/01/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện tại ngoại. Có mặt.
-
Nguyễn Phương Đ, sinh ngày 21/4/2005; HKTT: Thôn Â, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1976 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1980; Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến ngày 05/01/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện tại ngoại. Có mặt.
-
Nguyễn Chấn U, sinh ngày 13/5/2007; HKTT: Thôn Â, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị H (tên gọi khác là Nguyễn Thị N), sinh năm 1984; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến ngày 05/01/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện tại ngoại. Có mặt.
-
Nguyễn Ngọc H2, sinh ngày 07/4/2006; HKTT: Thôn Â, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1977; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con lớn; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến ngày 05/01/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện tại ngoại. Có mặt.
-
Nguyễn Văn Đức A, sinh ngày 19/11/2006; HKTT: Thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1975; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con út; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến ngày 29/12/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện tại ngoại. Có mặt.
-
Nguyễn Duy An sinh ngày 11/11/2005; HKTT: Thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1984 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1987; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến ngày 05/01/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện tại ngoại. Có mặt.
-
Nguyễn Văn H4 sinh ngày 20/4/2006; HKTT: Thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H5, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1966; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến ngày 05/01/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện tại ngoại. Có mặt.
-
Nguyễn Quang T2 sinh ngày 20/6/2006; HKTT: Thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị Đ2, sinh năm 1988; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến ngày 05/01/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện tại ngoại. Có mặt.
-
Nguyễn Văn Hiếu sinh ngày 01/9/2006; HKTT: Thôn Â, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc Đ3, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1983; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện tại ngoại. Có mặt.
*Người đại diện theo pháp luật của các bị cáo:
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo U: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1980; trú tại: Thôn Â, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (là bố đẻ của bị cáo). Có mặt.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo H2: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1976; trú tại: Thôn Â, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (là bố đẻ của bị cáo). Có mặt.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Đức A1: Ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1970; trú tại: Thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (là bố đẻ của bị cáo). Có mặt.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo H4: Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1966; trú tại: Thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (là mẹ đẻ của bị cáo). Có mặt.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo T2: Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1977; trú tại: Thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (là bố đẻ của bị cáo). Có mặt.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo H6: Ông Nguyễn Ngọc Đ3, sinh năm 1982; trú tại: Thôn Â, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (là bố đẻ của bị cáo). Có mặt.
*Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Chấn U, Nguyễn Ngọc H2: Bà Đặng Thị H7 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh B. Có mặt.
*Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn Đức A, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Quang T2, Nguyễn Văn H8: Bà Phan Thị Thu H9 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm tâm trợ giúp pháp lý tỉnh B. Có mặt
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cháu Nguyễn Doãn L, sinh năm 2008; Nơi ĐKHKTT: Thôn Â, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
- Cháu Nguyễn Duy Q1, sinh năm 2008; Nơi ĐKHKTT: Thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
- Cháu Nguyễn Duy K2, sinh năm 2008; Nơi ĐKHKTT: Thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H (tên gọi khác là Nguyễn Thị N), sinh năm 1984; trú tại: Thôn Â, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Doãn T5, sinh năm 1984; trú tại: Thôn Â, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (là bố đẻ của L). Vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Đ4, sinh năm 1986; trú tại: Thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (là bố đẻ của Q1). Vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1984; trú tại: Thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (là bố đẻ của K2). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 00 ngày 06/10/2023, Nguyễn Quang T2, Nguyễn Văn Đức A, Nguyễn Duy Q1, Nguyễn Duy A2, Nguyễn Duy K2, Nguyễn Văn P1 và Nguyễn Văn H4 đều trú tại thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, ngồi uống nước tại quán nước của anh Nguyễn Văn T6 sinh năm 1994, trú tại thôn Y, xã T dưới chân cầu N Khê thuộc thôn Đ, xã T. Sau đó, T2 và P1 đi chơi bi-a còn Đức A1, A2 và K2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ đen bạc, biển kiểm soát 20H1-385.08 đi chơi ngoài đường, Q1 và H4 mỗi người điều khiển một xe đạp điện đi về nhà theo đường Đ. Khi Q1 và H4 đi được khoảng 300m thì gặp Nguyễn Văn H8, Nguyễn Ngọc H2 và Nguyễn Phương Đ đi trên 01 xe mô tô Honda wave màu xanh -đen- bạc, biển kiểm soát 99C1-265.59, Nguyễn Chấn U chở Nguyễn Văn L1 đi xe đạp điện (H8, H2, Đ, U, L1 cùng trú tại thôn Â, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh). Trên đường đi, Q1 điều khiển xe đạp điện tạt đầu, đánh võng trước đầu nhóm của Đ đang đi trên đường, nên Đ tăng ga đi lên chặn Q1 lại nói “Mày đi hẳn hoi không?”, rồi dùng tay phải tát hai cái vào mặt Q1. U cũng dùng tay tát hai cái vào gáy Q1. H8 dùng tay phải tát hai cái vào má Q1 nói “Mày đi hẳn hoi”. Sau đó, H8 rút chìa khóa xe đạp điện của Q1 vứt trên đường. H2 và L1 dùng tay chân đấm đá Q1. Một lúc sau, nhóm của Đ không đấm đá Q1 nữa mà đi về giữa cầu N Khê ngồi chơi. Bị đánh và không tìm thấy chìa khóa xe nên H4 đẩy xe của Q1 về đến nhà Q1 rồi H4 đi ra đầu ngõ nhà A2. Tại đây, H4 gặp A2, Đức A1, K2 và T2 đi chơi về. H4 nói lại việc Q1 bị một nhóm của Đ đánh thì A2, K2, Đức A1 nói vừa gặp nhóm này trên đê nên cả nhóm rủ nhau đuổi theođể tìm đánh nhóm của Đ. Sau đó, K2 điều khiển xe mô tôbiển kiểm soát 20H1-385.08 chở Đức A1, A2, T2 điều khiển xe máy điện của H4 chở H4 ngồi sau đi đến quán nước của anh T6. Khi đến nơi, Đức A1, A2 và H4 mỗi người vào trong quán nước cầm 01 điếu cày làm bằng tre, màu nâu vàng, dài 50-70cm, đường kính khoảng 5cm đi ra đầu cầu S Huyện K thì gặp nhóm Đ đang ngồi chơi ở giữa cầu. Đông, H2, H8 biết nhóm Đức A1 tìm đánh lại mình nên cả nhóm lên xe bỏ chạy vào trong làng Â, xã P, huyện T.
Nhóm của Đ chạy về gần đến nhà U thì Đ bỏ xe lại, Đ và H8 bỏ chạy vào trong làng còn H2 chạy vào nhà U gần đó cầm thanh sắt vuông cạnh (1,5 x 1,5)cm dài 1,89m đi ra. Đồng thời lúc này Đức A1, A2, K2 cũng đuổi đến nơi, trên tay Đức A1 và A2 đều cầm điếu cày thách thức với H2. T2 và H4 cũng đi đến, H4 cầm điếu cày hẹn nhóm của H2 lên cầu N đánh nhau tiếp. Thấy vậy, Đức A1, H4, T2, A2, Khởi đi về quán nước nhà anh T6 chơi, ngồi đợi nhóm của Đ. Lúc này, U đi xe đạp điện về biết việc nhóm Đức A1 sang gây sự đánh nhau nên U vào nhà mình lấy 01 thanh tuýp bằng sắt dài khoảng 1 mét, màu xám, đường kính 2,1cm còn Đ về sân nhà mình lấy con dao loại chuôi bằng gỗ dài 14cm dày 1,5cm, phần lưỡi bằng kim loại kích thước (20 x 5,2)cm ở góc sân cầm theo mang lên cầu để đánh nhau. Khi đi Đ điều khiển xe mô tô của H8 chở H8 ngồi giữa và U ngồi sau cùng đi lên cầu trước. Nguyễn Trường G là anh trai U, thấy U bị đánh nên cũng vào nhà lấy 01 con dao bản rộng 6,8cm, phần chuôi dao hình tròn dài 11cm phần lưỡi dao dài 24,5cm rồi đưa cho H2 cầm. G điều khiển xe mô tô Honda Wave màu xanh, đen, bạc biển kiểm soát 99C1-510.99 chở H2 cầm thanh sắt trước đó và con dao mà G vừa đưa đi lên cầu N Huyện K, H8, U. Nhóm Đông, H8, U, G và H2 để hai xe máy lại rồi mang theo hung khí đi bộ sang quán nước nhà anh T6 ở đầu cầu. Khi đi, H2 đưa cho G con dao, H2 cầm thanh sắt cùng G đi trước, theo sau có Đ cầm dao, U cầm tuýp sắt, H8 không mang theo gì. Trên đường đi, nhóm Đ gặp A2 điều khiển xe máy đi sang. Thấy nhóm của Đ đi sang thì A2 hô “chạy đi, chúng nó sang” và tăng ga bỏ chạy thì H8 dùng tay kéo A2 lại nhưng không được. S đến đầu cầu thuộc thôn Đ, xã T, U lao vào, dùng tay đấm Đức A1 và H4. Bị đuổi đánh, Đức A1 và H4 mỗi người cầm một chiếc điếu cày. Thấy vậy, U quay lại định ra xe lấy tuýp sắt nhưng bị một người trong nhóm Đức A1 cầm điếu vụt hai phát trúng vào tay trái và vai trái của U. Bị đánh, U chạy đến xe cầm được tuýp sắt quay lại đuổi đánh Đức A1 thì Đức A1 chạy vào quán nước. H2 cầm thanh sắt lao vào đuổi vụt một phát trúng vào lưng Đức A1. Đức A1 tiếp tục bỏ chạy quanh vị trí anh T6 đang bán nước. Lúc này, G đang cầm con dao chạy tới vị trí của Đức A1 đang cầm điếu cày cũng đang trên đà chạy, G vung dao chém một nhát từ trên xuống dưới, Đức A1 giơ tay trái lên đỡ nên bị dao chém trúng vào phần cẳng tay trái làm Đức A1 bị thương và bỏ chạy. G quay sang đuổi và chém một nhát trúng vào vùng hông bên trái H4 nên H4 bỏ chạy vào trong đê. Thấy K2 nhặt đoạn cành cây dài khoảng 2-3m, đường kính khoảng 5cm ở lề đường, U cầm tuýp sắt đuổi K2 trên đường nhựa hướng về Đ khoảng 10m thì dừng lại. Còn Đ cầm dao đuổi chém T2 cầm điếu cày trên đường đê hướng vào thôn Đ. Khi G, Đ, U, H2 nghe tiếng quát của anh Nguyễn Văn T sinh năm 1980 là bố đẻ của G và U thì dừng lại, không đuổi đánh nhau nữa mà đi về. Lúc này Đức A1 nhờ K2 đưa đến Trung tâm y tế huyện Y khám. Sau đó, được người nhà đưa Đức A1 đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B và Bệnh viện H10 điều trị. Nguyễn Văn H4 bị thương nhẹ nên không đến cơ sở y tế nào điều trị.
Sau khi xảy ra sự việc Nguyễn Văn Đức A có đơn trình báo sự việc gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y.
Ngày 20/11/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số 325 trưng cầu trung tâm pháp y tỉnh B giám định tỷ lệ phần trăm thương tích và cơ chế hình thành vết thương của Nguyễn Văn Đức A. Tuy nhiên, Đức A1 kiên quyết từ chối giám định.
Ngày 24/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Quyết định dẫn giải số 35 dẫn giải Nguyễn Văn Đức A đến trung tâm pháp y tỉnh B giám định nhưng Đức A1 vẫn kiên quyết từ chối giám định và không yêu cầu xử lý hình sự đối với người đã đánh gây thương tích cho mình. Nguyễn Văn H4 không đề nghị gì đối với người gây thương tích cho H4.
Ngày 11/12/2023 Uỷ ban nhân xã T, Công an xã T có công văn đề nghị xử lý các đối tượng đã gây rối trật tự công cộng tối ngày 06/10/2023 tại chân cầu N Khê theo quy định pháp luật.
Về thu giữ vật chứng:
- Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave màu xanh-đen-bạc, đeo biển kiểm soát 99C1-265.59 mà H8 mang đi cho Đ sử dụng và chiếc xe mô tô Honda Wave màu xanh-đen-bạc, đeo biển kiểm soát 99C1-510.99 mà G và H2 đã sử dụng là tài sản của anh Nguyễn Ngọc Đ3 là bố đẻ của H8 và anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1980 là bố đẻ của G. H8 và G tự ý lấy xe mô tô sử dụng. Anh Đ3 và anh T không biết H8 và G sử dụng xe mô tô của mình. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không thu giữ để xử lý là phù hợp.
- Đối với chiếc xe đạp điện Nguyễn Chấn U mượn của khách trong quán N2. Uy không biết tên tuổi và địa chỉ cụ thể của người này. Sau khi sự việc xảy ra U đã trả lại xe cho người này. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không có căn cứ thu hồi để xử lý.
- Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave, màu đỏ đen bạc, biển kiểm soát 20H1-385.08 mà K2 sử dụng là xe của anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1984, là bố đẻ của K2 và chiếc xe đạp điện mà T2 sử dụng là xe của anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1977 là bố đẻ của T2. Sau khi sự việc xảy ra, do xe đã cũ anh T1 và anh T4 đã bán chiếc xe trên cho những người không quen biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y chưa có căn cứ để xác minh thu hồi.
- Đối với những chiếc điếu cày mà A2, Đức A1, T2, H4 cầm, cành cây K2 cầm để đuổi đánh nhau, các đối tượng đã trả lại quán nước cho anh Nguyễn Văn T6. Do không sử dụng nữa nên anh T6 đã dùng làm củi đun bếp nên cơ quan điều tra không thu giữ được.
- Đối với 01 thanh sắt vuông cạnh 1,5x1,5 cm dài 1,89cm do Nguyễn Ngọc H2 tự nguyện giao nộp, 01 con dao chuôi bằng gỗ dài 14cm, dày 1,5cm, phần lưỡi bằng kim loại kích thước 20x5,2cm do Nguyễn Phương Đ tự nguyện giao nộp, 01 con dao phần lưỡi dài 24,5cm, bản rộng 6,8cm, phần chuôi dao hình tròn dài 11cm do Nguyễn Trường G tự nguyện giao nộp là công cụ các bị can sử dụng vào mục đích phạm tội hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Công an huyện Y.
Về bồi thường dân sự:
Nguyễn Trường G đã tác động đến bố đẻ là anh Nguyễn Văn T tự nguyện bồi thường cho Nguyễn Văn Đức A số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng). Đức A1 đã nhận số tiền trên và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Trường G về hành vi Cố ý gây thương tích. Anh T không yêu cầu G phải trả lại cho anh số tiền anh đã bồi thường cho Đức A1.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của bản thân như đã nêu trên.
Với nội dung trên, bản Cáo trạng số 41/CT-VKSYP ngày 18/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố các bị cáo Nguyễn Trường G, Nguyễn Phương Đ, Nguyễn Chấn U, Nguyễn Ngọc H2, Nguyễn Văn Đức A, Nguyễn Duy A2, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Quang T2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Văn H8 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo lần lượt khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Việc truy tố, xét xử là đúng, không oan sai. Các bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật.
Người đại diện hợp pháp của các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo được ở bên ngoài xã hội để tiếp tục đi học. Các bị cáo hiện đều là học sinh, do thiếu hiểu biết nên đã bồng bột thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng và đây là lần đầu tiên các bị cáo vi phạm pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Văn Đức A và gia đình bị cáo Đức A1 trình bày: đã nhận được số tiền 40.000.000 đồng do gia đình bị cáo G bồi thường. Tại phiên tòa, gia đình bị cáo G, U và Đ tiếp tục bồi thường thì bị cáo Đức A1 cùng với gia đình không nhận số tiền này. Đề nghị Tòa án giải quyết theo qui định pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H (tên gọi khác là Nguyễn Thị N) trình bày: Tôi là mẹ của bị cáo Nguyễn Trường G và Nguyễn Chấn U, bị cáo G có tác động gia đình để bồi thường cho anh Nguyễn Văn Đức A số tiền 40.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi triệu đồng) đây là số tiền của gia đình tôi, tôi không yêu cầu G phải trả tôi số tiền trên. Tôi đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho G và U.
Ông Nguyễn Văn T trình bày: Tôi là bố của bị cáo Nguyễn Trường G, và là chú ruột của bị cáo Nguyễn Phương Đ. Các bị cáo đã tác động đến gia đình nên ông T đã nộp thay số tiền 2.000.000 đồng cho Đ, 2.500.000 đồng cho G và 2.500.000 đồng cho U tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong để khắc phục hậu quả. Ông T không yêu cầu G, U và Đ trả ông số tiền này. Ông T đã bồi thường cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng thay cho G, ông không yêu cầu G phải trả lại ông số tiền này.
Tại phiên tòa, bị cáo Đức A1 cùng với gia đình không nhận số tiền bồi thường do bị cáo G, U, Đ đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong. Đề nghị Tòa án giải quyết theo qui định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo Cáo trạng số 41/CT-VKSYP ngày 18/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trường G, Nguyễn Phương Đ, Nguyễn Chấn U, Nguyễn Ngọc H2, Nguyễn Văn Đức A, Nguyễn Duy A2, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Quang T2, Nguyễn Văn H8 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Về hình phạt và điều luật áp dụng:
- Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt:
- Nguyễn Trường G từ 26 tháng đến 28 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 52 tháng đến 56 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Nguyễn Phương Đ từ 24 tháng đến 26 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 52 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58, 90, 91, 101, 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Các bị cáo Nguyễn Chấn U, Nguyễn Ngọc H2, Nguyễn Văn Đức A, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Quang T2, Nguyễn Duy A2 mỗi bị cáo từ 16 tháng đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 32 tháng đến 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Căn cứ khoản 1 Điều318; Điểm i, s khoản1 Điều 51; Điều 17, 58, 90, 91, 101, 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H8 từ 06 tháng đến 08 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Nguyễn Trường G, Nguyễn Phương Đ, Nguyễn Chấn U, Nguyễn Ngọc H2, Nguyễn Văn H8 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao các bị cáo Nguyễn Văn Đức A, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Quang T2, Nguyễn Duy A2, cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung:
Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo.
Về vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 thanh sắt vuông cạnh 1,5x1,5 cm dài 1,89cm; 01 con dao chuôi bằng gỗ dài 14cm, dày 1,5cm, phần lưỡi bằng kim loại kích thước 20x5,2cm; 01 con dao phần lưỡi dài 24,5cm, bản rộng 6,8cm, phần chuôi dao hình tròn dài 11cm.
Về trách nhiệm dân sự:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 2.000.000 đồng của bị cáo Đ, số tiền 2.500.000 đồng của bị cáo G và số tiền 2.500.000 đồng của bị cáo U do ông Nguyễn Văn T nộp thay các bị cáo tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong.
Về án phí:
Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho các bị cáo trình bày.
Nhất trí với tội danh và điều luật như luận tội của Kiểm sát viên. Tuy nhiên do các bị cáo U, H2, Đức A1, H4, T2, H8 đều dưới 18 tuổi, hành động nhất thời bồng bột và hiểu biết về pháp luật thấp. Đây là lần đầu phạm tội, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo U đã tác động đến gia đình bồi thường cho Đức A1, bị cáo H2 và H4 có gia đình có công với cách mạng, bị cáo T2 tích cực hoạt động trong công tác đoàn. Đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo U, H2, Đức A1, H4, T2; áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo H8. Đề nghị HĐXX áp dụng các qui định đối với người dưới 18 tuổi để xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất và cho các bị cáo được hưởng án treo để các bị cáo được tự cải tạo, rèn luyện bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội.
Sau khi nghe luận tội của đại diện Viện kiểm sát, người đại diện hợp pháp của các bị cáo, các bị cáo, người bào chữa thừa nhận hành vi phạm tội, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an huyện Y, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo không có khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với với vật chứng thu được và những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 00 ngày 06/10/2023, từ quán nước của anh Nguyễn Văn T6 ở đầu cầu N Khê thuộc thôn Đ, xã T, huyện Y, Nguyễn Duy K2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20H1-385.08 chở Nguyễn Văn Đức A, Nguyễn Duy A2, Nguyễn Quang T2 điều khiển xe máy điện của Nguyễn Văn H4 chở H4 (Đức A1, A2, H4 mỗi người cầm 01 chiếc điếu cày bằng tre, màu nâu vàng, dài khoảng 50-70cm, đường kính khoảng 5cm đuổi đánh Nguyễn Văn H8, Nguyễn Ngọc H2, Nguyễn Phương Đ đến nhà Nguyễn Chấn U ở thôn Â, xã P, huyện T. Sau đó, Nguyễn Quang T2, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Văn Đức A, Nguyễn Duy K2, Nguyễn Văn H8, Nguyễn Ngọc H2, Nguyễn Phương Đ, Nguyễn Chấn U, Nguyễn Trường G, tiếp tục cầm cầm dao, điếu cày đuổi đánh nhau tại quán nước của an T6. Hậu quả làm Nguyễn Văn Đức A bị thương phải đưa đi bệnh viện cấp cứu điều trị. Hành vi trên của các bị can đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn huyện Y. Vì vậy, Uỷ ban nhân xã T, Công an xã T đã có công văn đề nghị xử lý các bị cáo theo quy định pháp luật.
Hành vi cầm hung khí đuổi đánh nhau dẫn đến hậu quả có người bị thương của các bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây mất trật tự nơi công cộng, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân tại địa phương. Cáo trạng truy tố các bị cáo Nguyễn Trường G, Nguyễn Phương Đ, Nguyễn Chấn U, Nguyễn Ngọc H2, Nguyễn Văn Đức A, Nguyễn Duy A2, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Quang T2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Nguyễn Văn H8 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Trong vụ án này các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công cụ thể nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Xét về vai trò trong vụ án có thể thấy các bị cáo có vai trò ngang nhau. Các bị cáo khi thấy bạn của mình bị dọa đánh nên đã cùng nhau hẹn nhóm đối phương để xử lý mâu thuẫn bằng bạo lực và có sử dụng hung khí. Khi thực hiện hành vi không có người chỉ đạo mà tự cầm các hung khí, vật dụng nguy hiểm đến điểm hẹn để cùng giải quyết mâu thuẫn giữa hai nhóm. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo Nguyễn Trường G, Nguyễn Phương Đ, Nguyễn Chấn U, Nguyễn Ngọc H2, Nguyễn Văn Đức A, Nguyễn Duy A2, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Quang T2 và Nguyễn Văn H8 đồng phạm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn minh đô thị, ảnh hưởng đến trật tự trị an, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân nơi xảy ra tội phạm. Vì vậy cần phải có hình phạt thích đáng tương xứng với, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo mới đủ để răn đe và phòng ngừa chung.
[4]Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều là người có nhân thân tốt. Các bị cáo phạm tội lần đầu, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, có nơi cư trú rõ ràng nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Bị cáo Nguyễn Văn H8 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Bị cáo G có tác động đến gia đình để bồi thường cho Nguyễn Văn Đức A số tiền 40.000.000 đồng; nộp số tiền 2.500.000 đồng để khắc phục hậu quả, 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo U có tác động đến gia đình nộp số tiền 2.500.000 đồng để khắc phục hậu quả, 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Nguyễn Phương Đ tác động đến gia đình tự nguyện nộp 2.000.000 đồng khắc phục một phần hậu quả, 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Nguyễn Văn Đức A là học sinh, tích cực hoạt động trong công tác đoàn, bị cáo có bà ngoại là dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ tổ quốc và làm nhiệm vụ Quốc tế;
- Bị cáo Nguyễn Duy A2 có ông bà nội tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế.
- Bị cáo Nguyễn Văn H4 có bác ruột được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
- Bị cáo Nguyễn Ngọc H2 có ông nội tham gia cách mạng được tặng thưởng huân huy chương.
- Bị cáo Nguyễn Quang T2 tích cực hoạt động trong công tác đoàn.
- Vì vậy, các bị cáo G, U, Đức A1, Đ, A2, T2, H2, H4 được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo qui định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
- Các bị cáo Nguyễn Chấn U, Nguyễn Ngọc H2, Nguyễn Văn Đức A, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Quang T2, Nguyễn Văn H8 là người chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng các điều luật dành cho người dưới 18 tuổi phạm tội trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử.
Các bị cáo đang tuổi còn trẻ, hành động nhất thời bồng bột và hiểu biết về pháp luật thấp. Các bị có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo tại địa phương. Căn cứ nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về án treo, không cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng có tác dụng giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo H2, Đức A1, A2, H4, T2 còn là học sinh hiện tại còn đang đi học, bị cáo G, H8, U, Đ và A2 không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, không có tài sản riêng vì vậy miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave màu xanh-đen-bạc, đeo biển kiểm soát 99C1-265.59 mà H8 mang đi cho Đ sử dụng là tài sản của anh Nguyễn Ngọc Đ3 là bố đẻ của H8 và chiếc xe mô tô Honda Wave màu xanh-đen-bạc, đeo biển kiểm soát 99C1-510.99 mà G và H2 đã sử dụng là tài sản của anh Nguyễn Văn T là bố đẻ của G. Anh Đ3 và anh T không biết H8 và G sử dụng xe mô tô của mình. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không thu giữ để xử lý. Vì vậy Tòa án không xem xét giải quyết.
- Đối với chiếc xe đạp điện Nguyễn Chấn U mượn của khách trong quán N2, U không biết tên tuổi, địa chỉ của người này, sau khi sự việc xảy ra U đã trả lại cho người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ thu hồi để xử lý. Vì vậy Tòa án không xem xét giải quyết.
- Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave, màu đỏ đen bạc, biển kiểm soát 20H1-385.08 mà K2 sử dụng là xe của anh Nguyễn Văn T1, là bố đẻ của K2 và chiếc xe đạp điện mà T2 sử dụng là xe của anh Nguyễn Văn T4, là bố đẻ của T2. Sau khi sự việc xảy ra, anh T1 và anh T4 đã bán chiếc xe trên cho những người không quen biết. Cơ quan điều tra chưa có căn cứ để xác minh thu hồi. Vì vậy Tòa án không xem xét giải quyết.
- Đối với những chiếc điếu cày mà A2, Đức A1, T2, H4 cầm, cành cây K2 cầm để đuổi đánh nhau, các đối tượng đã trả lại quán nước cho anh Nguyễn Văn T6. Do không sử dụng nữa nên anh T6 đã dùng làm củi đun bếp nên cơ quan điều tra không thu giữ được. Vì vậy Tòa án không xem xét giải quyết.
- Đối với 01 thanh sắt vuông cạnh 1,5x1,5 cm dài 1,89cm; 01 con dao chuôi bằng gỗ dài 14cm, dày 1,5cm, phần lưỡi bằng kim loại kích thước 20x5,2cm; 01 con dao phần lưỡi dài 24,5cm, bản rộng 6,8cm, phần chuôi dao hình tròn dài 11cm là hung khí, dụng cụ, vật dụng nguy hiểm sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo G đã tác động đến gia đình ông T và bà H là bố, mẹ đẻ của G tự nguyện bồi thường cho Nguyễn Văn Đức A số tiền 40.000.000 đồng. Đức A1 đã nhận số tiền trên và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự. Ông T, bà H không yêu cầu G phải trả lại số tiền đã bồi thường cho Đức A1. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Sau khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, các bị cáo G, U và Đ đã tác động đến gia đình khắc phục hậu quả và ông T đã nộp thay các bị cáo Đ số tiền 2.000.000 đồng, cho bị cáo G 2.500.000 đồng, cho bị cáo U 2.500.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong để khắc phục một phần hậu quả cho Nguyễn Văn Đức A. Đức A1 và gia đình không nhận số tiền này, đồng thời anh T không xin lại số tiền này vì vậy cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
[8] Liên quan trong vụ án này có:
- Đối với Nguyễn Duy Q1 có hành vi điều khiển xe máy lạng lách đánh võng khi tham gia giao thông và Nguyễn Doãn L có hành vi dùng tay không tát Q1. Hành vi của Q1 và L không cấu thành tội phạm. Bản thân Nguyễn Duy Q1 không bị thương tích, không điều trị tại cơ sở ý tế nào và không đề nghị gì đối với những người đã dùng chân tay không đánh Q1. Do vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện Y chỉ răn đe, giáo dục nhắc nhở đối với Nguyễn Duy Q1 và Nguyễn Doãn L là phù hợp pháp luật.
- Đối với Nguyễn Duy K2 có hành vi tụ tập điều khiển xe mô tô hô hào, dùng cành cây để đánh nhau. Tuy nhiên K2 chưa đủ 16 tuổi. Vì vậy, ngày 26/02/2024 Công an huyện Y đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K2 về hành vi “Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc công cụ, đồ vật, phương tiện khác có khả năng sát thương” quy định tại điểm b, khoản 5, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là phù hợp.
- Đối với thương tích của Nguyễn Văn Đức A và Nguyễn Văn H4: Do Đức A1, H4 bị thương nhẹ, không đi điều trị ở cơ sở y tế nào. Mặt khác, Đức A1, H4 có đơn đề nghị không xử lý Nguyễn Trường G về hành vi gây thương tích cho Đức A1 và H4. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không xem xét, xử lý đối với Nguyễn Trường G về hành vi cố ý gây thương tích là phù hợp pháp luật.
[7] Về án phí: Các bị cáo còn lại phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trường G, Nguyễn Phương Đ, Nguyễn Chấn U, Nguyễn Ngọc H2, Nguyễn Văn Đức A, Nguyễn Duy A2, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Quang T2, Nguyễn Văn H8 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- * Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt:
- Nguyễn Trường G 26 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 52 tháng, tính từ ngày 10/5/2024.
- Nguyễn Phương Đ 24 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng, tính từ ngày 10/5/2024.
- * Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58, 90, 91, 101, 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Các bị cáo Nguyễn Chấn U, Nguyễn Ngọc H2, Nguyễn Văn Đức A, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Quang T2, Nguyễn Duy A2 mỗi bị cáo 16 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 32 tháng tính từ ngày 10/5/2024.
- * Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản1 Điều 51; Điều 17, 58, 90, 91, 101, 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H8 06 tháng tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày 10/5/2024.
Giao các bị cáo Nguyễn Trường G, Nguyễn Phương Đ, Nguyễn Chấn U, Nguyễn Ngọc H2, Nguyễn Văn H8 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao các bị cáo Nguyễn Văn Đức A, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Quang T2, Nguyễn Duy A2, cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo.
- * Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt:
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết
Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 2.000.000 đồng của bị cáo Đ theo biên lai thu số 0001843 ngày 08/5/2024, số tiền 2.500.000 đồng của bị cáo G theo biên lai thu số 0001831 ngày 02/5/2024 và số tiền 2.500.000 đồng của bị cáo U theo biên lai thu số 0001833 ngày 08/5/2024 do ông Nguyễn Văn T nộp thay các bị cáo tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh sắt vuông cạnh 1,5x1,5 cm dài 1,89cm; 01 con dao chuôi bằng gỗ dài 14cm, dày 1,5cm, phần lưỡi bằng kim loại kích thước 20x5,2cm; 01 con dao phần lưỡi dài 24,5cm, bản rộng 6,8cm, phần chuôi dao hình tròn dài 11cm.
(Vật chứng trên theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/4/2024 giữa Công an huyện Y và Chi cục THADS huyện Y).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Các bị cáo Nguyễn Trường G, Nguyễn Phương Đ, Nguyễn Chấn U, Nguyễn Ngọc H2, Nguyễn Văn Đức A, Nguyễn Duy A2, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Quang T2, Nguyễn Văn H8 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Xác nhận các bị cáo G, Đ, U mỗi người đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0001838, biên lai thu số 0001840 và biên lai thu số 0001839 cùng ngày 08/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Các bị cáo, người đại diện, người bào chữa cho các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |
|
Nguyễn Thế Long Kiều Văn Dậu |
Vũ Thu Trang |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thu Trang |
Bản án số 75/2024/HSST ngày 10/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về hình sự sơ thẩm về tội gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 75/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
