TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2024/HSST
Ngày: 09/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Đại, bà Lý Thị The .
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuyết- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa:
Bà Lò Thị Kẻo- Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Ly Lò C, sinh năm 1993, tại huyện M, tỉnh Lai Châu.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản Đ, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng Trọt; Trình độ văn hoá: 9/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Dân tộc: La Hủ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ly A X (đã chết) và con bà Vàng Cá X1, sinh năm 1963; Bị cáo có vợ: Vàng Hừ Me, sinh năm 1996 và có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Lai Châu, đến nay có mặt tại phiên tòa.
Những người làm chứng:
- Vàng Văn Ô, sinh năm 1985.
- Lường Văn T, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Bản N, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu.
Địa chỉ: Bản N, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu.
Tất cả đều vắng mặt không lý do.
Người bào chữa: Bà Nông Thị Minh H- Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ, ngày 04/01/2024, Ly Lò C, sinh năm 1993, trú tại bản Đầu N, xã B, huyện M đang một mình lấy bông chít tại dọc đường quốc lộ 4H, cùng thuộc địa phận bản Đầu Nậm Xả, xã B. Tại đây, C đã gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Mông, lạ mặt 01 gói Heroine, bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu trắng với giá 550.000 đồng. Sau khi mua được H1, C cất giấu vào trong túi áo bên trái mà C đang mặc rồi đem về nhà. Về đến nhà, C đã lấy gói Heroine mới mua được ra, rồi chia nhỏ thành 13 gói (trong đó 10 gói đều được gói bằng mành nilon màu hồng và gói chung thành 01 gói bằng mảnh nilon màu hồng khác, còn lại 03 gói được gói bằng mảnh nilon màu trắng). Sau khi chia Heroine xong, C cất giấu toàn bộ số Heroine như đã mô tả ở trên tại giường ngủ của Chờ.
Đến khoảng 07 giờ ngày 05/01/2024, khi C đang một mình ở nhà thì có Vàng Văn Ô, sinh năm 1985 và Lường Văn T, sinh năm 1991 cùng trú tại bản Nà Lang, xã B, huyện M đến nhà C hỏi mua Heroine để sử dụng và được C đồng ý. Sau đó, C lấy 02 gói Heroine từ trong số 03 gói Heroine mà Chờ gói bằng mảnh nilon màu trắng ra bán cho Ô và T mỗi người 01 gói với giá 50.000 đồng mỗi gói. Bán Heroine cho Ô và T xong, C cũng lấy 01 gói Heroine, bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu trắng còn lại ra rồi dùng dao tem cắt lấy một phần để sử dụng, phần còn lại Chờ gói lại như cũ và cất giấu tại vị trí ban đầu. Còn Ô và T đã tự ý sử dụng Heroine ngay tại trong nhà bếp của gia đình C (C không biết việc Ô và T sử dụng ma túy).
Đến hồi 07 giờ 15 phút cùng ngày 05/01/2024, tại nhà ở của C thuộc bản Đầu N, xã B, khi Ô và T vừa sử dụng hết số Heroine nêu trên, còn C đang chuẩn bị sử dụng Heroine tại nhà ở của C thì bị tổ công tác Công an xã B, huyện M phát hiện, thu giữ 01 mảnh giấy bạc; 01 bật lửa ga màu tím và 02 mảnh nilon màu trắng của Ô và T; thu giữ của Chờ 02 miếng gạch men màu trắng, trên bề mặt miếng gạch chứa Heroine vụn (tổ công tác gom lại và gói bằng mảnh nilon màu trắng), 01 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa gas màu vàng, 01 con dao tem; 11 gói Heroine (trong đó 10 gói đều được gói bằng mảnh nilon màu hồng và gói chung thành 01 gói bằng mảnh nilon màu hồng khác và 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu trắng) và 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng (là tiền do C bán H1 cho Ô và T mà có). Tại đây, Ô và T đều khai nhận số Heroine mà Ô và T vừa sử dụng hết là mua được của Chờ. Trước sự việc trên tổ công tác đã mời người chứng kiến, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong toàn bộ vật chứng theo quy định của pháp luật.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M đã tiến hành khám xét chỗ ở của Ly Lò C. Quá trình khám xét, Cơ quan CSĐT Công an huyện M không phát hiện và thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại bản kết luận giám định số 08/KLGĐ ngày 05/01/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: 12 mẫu chất bột khô, màu trắng thu giữ của Ly Lò C có tổng khối lượng là 1,34 gam (Một phẩy ba mươi tư gam).
Tại kết luận giám định số 132/GĐ-KTHS ngày 08/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh L kết luận: 12 Mẫu chất bột, màu trắng (ký hiệu Mẫu 01 đến Mẫu 12) thu giữ của Ly Lò C gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine được quy định tại bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.
Tại kết luận giám định số 133/GĐ-KTHS ngày 08/01/2024 của Phòng K- Công an tỉnh L kết luận: 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng, có mã số hiệu lần lượt là: RE 17118642 và UN 179811327 gửi đến giám định là tiền thật.
Tại bản cáo trạng số 35/CT- VKS-MT ngày 29/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè truy tố bị cáo Ly Lò C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Ly Lò C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Ly Lò C từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 02 mảnh nilon màu trắng; 11 mảnh nilon màu hồng; 02 bật lửa gas (01 cái màu vàng và 01 cái màu tím); 02 mảnh giấy bạc; 01 dao tem và 02 miếng gạch men màu trắng.
Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) phong bì công văn của Phòng K Công an tỉnh L phát hành, bên trong đựng: 02 tờ tiền Việt Nam, mệnh giá 50.000 đồng (có mã số hiệu lần lượt là: RE 17118642 và UN 179811327).
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng, nội dung bản luận tội. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự xem xét cho bị cáo mức án phù hợp thấp nhất của khung hình phạt và xin miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng của Viện kiểm sát, bản luận cứ bào chữa của người bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện M, tỉnh Lai Châu- Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu- Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.
[2] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên Tòa và trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tòa án đã có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 07 giờ 00 phút ngày 05/01/2024, tại nhà ở của Ly Lò C thuộc bản Đầu N, xã B, huyện M, Ly Lò C đã có hành vi bán trái phép cho Vàng Văn Ô và Lường Văn T mỗi người 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng một gói để Ô và T sử dụng.
Ngoài ra, cùng ngày 05/01/2024, cũng tại địa điểm nêu trên, C còn có hành vi tàng trữ trái phép 1,34 gam Heroine để sử dụng và bán kiếm lời thì bị tổ công tác Công an xã B, huyện M phát hiện và thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật. Số Heroine này có chung nguồn gốc với số Heroine mà C đã bán cho Ô và T. Như vậy, C phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép Heroine với tổng khối lượng là 1,34 gam.
Do đó hành vi của bị cáo Ly Lò C đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hành vi nêu trên của bị cáo Ly Lò C là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi phạm tội của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, làm suy thoái giống nòi, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tội phạm khác.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn. Nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và nhân thân của bị cáo về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là hoàn toàn phù hợp, cần chấp nhận.
Người bào chữa đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt là chưa đảm bảo tính răn đe và chưa phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Đề nghị của người bào chữa xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo thì bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản và không giữ chức vụ gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về nguồn gốc số H: Chờ khai mua của người đàn ông dân tộc Mông, lạ mặt với giá 550.000 đồng. Quá trình điều tra không xác định được người này là ai, ngoài lời khai của bị cáo, không còn chứng cứ nào khác, nên không có căn cứ để xử lý. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
+ Đối với Vàng Văn Ổ và Lường Văn T: Quá trình điều tra xác định, Ô và T đã sử dụng hết Heroine nên không có căn cứ để xử lý hình sự. Do đó, Công an huyện M đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Ô và T về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp. Hội đồng xét xử chấp nhận và không đề cập giải quyết.
[6] Đối với hành vi Vàng Văn Ô và Lường Văn T sử dụng Heroine tại nhà của C: Quá trình điều tra xác định C không biết việc Ô và T sử dụng Heroine nên không có căn cứ để xử lý đối với C về hành vi “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy". Hội đồng xét xử chấp nhận và không đề cập giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 1,34 gam Heroine đã gửi hết giám định và không hoàn lại nên không đề cập giải quyết. Đối với 02 mảnh nilon màu trắng; 11 mảnh nilon màu hồng; 02 bật lửa gas (01 cái màu vàng và 01 cái màu tím); 02 mảnh giấy bạc; 01 dao tem và 02 miếng gạch men màu trắng. Đây là tang vật của vụ án, tất cả đều không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 02 tờ tiền Việt Nam, mỗi tờ có mệnh giá 50.000 đồng (có mã số hiệu lần lượt là: RE 17118642 và UN 179811327). Đây là tiền do phạm tội mà có cần tịch thu sung quỹ Nhà nước
[8] Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo là người dân tộc thiểu số và sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn và thuộc hộ nghèo của UBND xã B. Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Ly Lò C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 mảnh nilon màu trắng; 11 mảnh nilon màu hồng; 02 bật lửa gas (01 cái màu vàng và 01 cái màu tím); 02 mảnh giấy bạc; 01 dao tem và 02 miếng gạch men màu trắng.
- Án phí HSST: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Xử phạt bị cáo Ly Lò C 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 02 tờ tiền Việt Nam, mỗi tờ có mệnh giá 50.000 đồng (có mã số hiệu lần lượt là: RE 17118642 và UN 179811327).
(Vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè ngày 15/4/2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Bình |
Bản án số 75/2024/HSST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 75/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ...
