TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2024/HS-PT Ngày 16/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Luân
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng và ông Phạm Ngọc Thành
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký TAND tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hằng- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 103/2024/TLPT-HS ngày 17/7/2024 đối với bị cáo Đặng Văn H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 77/2024/HS-ST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xứ số: 111/2024/QĐXXPT-HS ngày 23/8/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 48/2024/QĐPT-HS ngày 05/9/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Bị cáo có kháng cáo: Đặng Văn H, sinh ngày 30/6/1962
Nơi cư trú: Số nhà H, đường H, tổ F, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 06/10; con ông Đặng Văn H1 và bà Nguyễn Thị M; Vợ: Nguyễn Thị N, có 02 con;
Tiền án: Không; Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 149 ngày 22/5/2020 của Công an thành phố H, tỉnh Hòa Bình xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi đánh nhau, ngày 29/6/2023 bị cáo nộp tiền phạt.
Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 36 ngày 27/8/2008 của Công an phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình xử phạt 200.000 đồng về hành vi đánh nhau, gây rối trật tự công cộng, chấp hành xong ngày 13/9/2008. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 118 ngày 30/11/2009 của Công an thành phố H, tỉnh Hòa Bình xử phạt 500.000 đồng về hành vi đánh nhau, chấp hành xong ngày 20/5/2011.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/10/2023 đến nay. (Có mặt).
* Bị hại: Ông Đặng Văn L, sinh năm 1953; Nơi cư trú: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Bà Trần Thị N1, sinh năm 1956; (có mặt)
- Anh Đặng Văn T, sinh năm 1979; (có mặt)
- Anh Đặng Văn T1, sinh năm 1984; (có mặt)
Đều cư trú tại: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
- Chị Đặng Thị M1, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình (có mặt)
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đại diện hợp pháp của bị hại: Luật sư Phạm Văn H2 – Luật sư Đoàn luật sư tỉnh T; Địa chỉ: Số B đường T, thành phố T. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 21/3/2023, Đặng Văn H cùng hai thợ làm đá là anh Nguyễn Văn H3 và anh Vũ Văn T2 về nhà thờ họ Đặng X ở thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình để đo vị trí đặt bức cuốn thư bằng đá cho nhà thờ họ. Khi Đặng Văn H cùng anh H3, anh T2 đến khu vực nhà thờ họ Đặng X thì anh H3 và anh T2 đi vào sân từ cổng của nhà thờ họ, còn H gọi bà Trần Thị N1 ra mở cổng nhà bà N1 để H đi vào sân nhà thờ. Sau đó ông Đặng Văn T3 và ông Đặng Thái L1 (là người trong họ Đặng X) đi cùng vào để xem việc đo vị trí đặt cuốn thư. Khi H cùng anh H3, anh T2, ông T3 và ông L1 vào sân nhà thờ thì ông Đặng Văn L từ trong nhà đi ra sân nhà thờ (nhà ông L và nhà thờ sử dụng chung sân phía trước). Thấy ông L thì H trao đổi là cho thợ về khảo sát đo vị trí đặt bức cuốn thư cho nhà thờ họ. Ông L chỉ vị trí đất của nhà ông L và vị trí đất của nhà thờ họ để H biết là không đúng với thực tế bản đồ. Ông L nói đồng ý diện tích đất của nhà thờ họ là 81m² còn lại là đất nhà ông. Ông L không cho làm cuốn thư đặt tại vị trí sân của nhà thờ mà trước đây gia đình ông L đã hiến đất. Sau đó ông L chỉ tay nói H nên H bực tức đã dùng hai tay cầm vào hai tay của ông L đẩy ông L về phía sau làm ông L ngã về phía sau, trước cửa nhà ông L, hai tay chống xuống bậc lên xuống làm cánh tay trái và khuỷu tay trái của ông L bị xây sát, chảy máu với tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 02%. Sau đó ông L đứng dậy tay trái cầm 01 chiếc dép dơ lên thì ông L1 vào can ngăn nên H và ông L không cãi nhau nữa. Sau khi sự việc xảy ra ông L được đưa ra Trạm y tế xã V để sơ cứu vết thương ở tay trái, sau đó chị M1 đưa ông L về Ủy ban nhân dân xã V biên bản sự việc. Đến chiều cùng ngày ông L được gia đình đưa lên Bệnh viện đa khoa thành phố T để chiếu chụp kiểm tra vết thương. Sáng ngày 22/3/2023 gia
đình tiếp tục đưa ông L đi khám tại Bệnh viện Đ tại thành phố T. Từ ngày 31/3/2023 đến ngày 05/4/2023 ông L được điều trị tại khoa mắt Bệnh viện Đa khoa tỉnh T. Từ ngày 06/4/2023 đến ngày 18/4/2023 ông L được chuyển tuyến điều trị tại Trung tâm huyết học và truyền máu Bệnh viện B. Sau đó ông L được xuất viện về gia đình, đến ngày 04/5/2023 ông L tử vong tại gia đình.
Ông Đặng Văn L, sinh ngày 20/01/1953 tại thời điểm xảy ra sự việc ngày 21/3/2023 là người trên 70 tuổi, có tiền sử bệnh đái tháo đường; Tăng huyết áp; Bệnh bạch cầu dạng lympho (ung thư máu) thường xuyên khám và điều trị tại bệnh viện C thuộc trường hợp là người già yếu, ốm đau.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 5456/22/KL-KTHS ngày 25/8/2023 của V Bộ C1 kết luận:
1. Kết quả chính: Căn cứ kết quả nghiên cứu hồ sơ, xác định ông Đặng Văn L bị: Vết thương rách da vùng cánh tay trái và vết thương rách da khuỷu trái; Nhồi máu não lỗ khuyết cạnh não thất bên phải và G mắt trái là tổn thương bệnh lý, không liên quan đến chấn thương;
2. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với 02 vết rách da tại vùng cánh tay trái và khuỷu tay trái: Mỗi vết 01%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Đặng Văn L tại thời điểm giám định là 02%.
Bản án sơ thẩm số 77/2024/HS-ST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình đã quyết định:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Căn cứ Điều 135; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
3. Trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất cứ khoản gì nên không đặt ra giải quyết.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, tuyên nghĩa vụ về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 30/5/2024 anh Đặng Văn T kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo
Ngày 31/5/2024 bà Trần Thị N1 kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo
Ngày 04/6/2024 bị cáo Đặng Văn H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án đề nghị huỷ bản án đề nghị điều tra, xét xử lại vụ án
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo H thừa nhận có thực hiện hành vi đẩy ông L làm ông L ngã về phía sau như kết luận điều tra cũng như bản án sơ thẩm đã thể hiện. Tuy nhiên bị cáo nhận thức rằng việc đẩy đó là phản xạ tự nhiên để ông L không đánh bị cáo, mức độ của hành vi là rất nhẹ, không cố ý gây thương tích cho ông L. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét toàn diện vụ án và cho bị cáo được hưởng án treo vì mức độ phạm tội của bị cáo không lớn.
Tại phiên tòa phúc thẩm anh T, bà N1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “ có tính chất côn đồ” và tăng hình phạt đối với bị cáo
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị cáo Đặng Văn H và của anh Đặng Văn T, bà Trần Thị N1, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HS-ST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
Bị cáo trình bày, xuất phát từ lòng tốt, có trách nhiệm của bị cáo đối với dòng tộc mà dẫn đến sự việc xảy ra, bị cáo không cố ý, không mong muốn nhưng do ông L ra chửi bới, cản trở và có hành vi đe doạ đánh bị cáo nên bị cáo đẩy ông L ra làm ông L ngã ra sân, bản thân bị cáo nhận thức được hành vi của mình có lỗi nhưng không đến mức bị phạt tù và tăng hình phạt như đề nghị của đại diện hợp pháp của người bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Luật sư H2 đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “ có tính chất côn đồ” và tăng hình phạt đối với bị cáo vì bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì, khi ông L ra ngăn cản không cho bị cáo làm thì bị cáo đã có hành vi đẩy ông L ngã trong khi ông L là người già, sức khoẻ yếu
Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo để cho bị cáo được hưởng án treo
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại làm và gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định là hợp lệ, nên được xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo của bị cáo:
[2.1] Về hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Theo kết quả điều tra và đã được làm rõ tại phiên toà sơ thẩm thể hiện: Tại bút lục 244 bị cáo H khai: “ ... Ông L bị sứt chảy máu ở tay còn cụ thể thương tích như thế nào bị cáo không biết ... Tại bút lục số 250: ... Ông L chỉ tay nói nên tôi dùng hai tay cầm vào hai tay ông L đẩy ông L ngã về phía sau làm cánh tay trái của ông L chống xuống bậc lên xuống cửa nhà ông L bị xây sát chảy máu, ông L bị xây sát ở cánh tay trái ..."
* Lời khai của những người làm chứng trực tiếp chứng kiến sự việc thể hiện:
- Tại bút lục 266, 267 bà Trần Thị N1 khai: “... Ông H cầm hai tay ông L đẩy về phía sau ngã ngửa tay đập vào bậc thềm cửa nhà chảy máu ở tay trái ...”
- Tại bút lục 270, 271 ông Đặng Văn T3 khai: “... Ông H và ông L giữ tay nhau rồi thấy ông L ngã về phía sau chạm vào bậc thềm lên xuống cửa nhà ông L, có thấy vết trầy sứt da chảy máu ở tay trái ...”
- Tại bút lục 278 ông Đặng Văn L2 khai: “... Ông H nắm hai tay ông L đẩy về ra phía sau, ông L ngã ngửa ra sau tay trái đập vào bậc thềm nhà chảy máu, ông H mặc áo xanh, quần đen, đội mũ cối trắng, bà N1 mặc quần áo màu tím trắng, ông L mặc áo sơ mi kẻ ca rô ngắn tay, quần dài đen ...”
- Tại bút lục 282 anh Nguyễn Văn H3 khai: “... Ông H dùng hai tay đẩy ông L ngã về ra phía sau, khi ông L đứng dậy thì tôi thấy tay trái của ông L bị xây sát chảy máu, vị trí tôi quan sát cách chỗ ông H và ông L khoảng 3-4m ...”
- Tại bút lục 284 anh Vũ Văn T2 khai: “... Ông H dùng hai tay cầm vào hai tay ông L đẩy làm ông L ngã ra sau, khi đứng dậy thấy tay trái ông L bị xây sát chảy máu, tay chống vào bậc thềm lên xuống cửa nhà ông L ra sân nhà thờ, khi ông L ngã thì tay chống xuống, phần đầu không chạm vào bậc thềm. Tôi đứng cách chỗ ông H và ông L khoảng 3-4m. Khi sự việc xảy ra có tôi (T2), anh H3, ông H, vợ chồng ông L và hai người nam giới trong họ vào xem nhưng tôi không biết tên ...”
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi của mình cũng như nội dung sự việc đã xảy ra vào sáng ngày 21/3/2023 như bản Kết luận điều tra, bản Cáo trạng và Bản án sơ thẩm đã thể hiện. Lời khai của cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với toàn bộ diễn biến đã được camera ghi hình tại sân nhà ông L đã ghi lại được Cơ quan giám định kết luận dữ liệu thu được từ camera nêu trên không bị chỉnh sửa, cắt xén; lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu được thu thập có trong hồ sơ vụ án gồm: Đơn trình báo và Biên bản ghi lời khai của bị hại; Lời khai của ông Hoàng Minh T4 nguyên Phó trưởng Công an xã V, thành phố T; Lời khai của bác sỹ Nguyễn Mạnh H4, Trạm Y tế xã V là người sơ cứu ban đầu cho ông L; Lời khai của anh Vũ Văn T2, anh Nguyễn Văn H3, ông Đặng Văn L2, bà Trần Thị N1 là người trực tiếp chứng
kiến sự việc; Biên bản xác định hiện trường; Sơ đồ hiện trường và Bản ảnh hiện trường; Kết luận giám định số 1082/KL-KTHS ngày 04/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh T; Kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 5456/22/KL-KTHS ngày 25/8/2023 của V Bộ C1; Công văn số 1382/C09-P5 ngày 14/5/2024 của V Bộ C1. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Do có mâu thuẫn trong việc tranh chấp đất sân nhà thờ họ Đặng X tại thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình nên khoảng 09 giờ 30 phút ngày 21/3/2023, tại sân nhà thờ họ Đặng X, Đặng Văn H có hành vi dùng hai tay của mình cầm vào hai tay của ông Đặng Văn L đẩy làm ông L ngã về phía sau, hai tay ông L chống xuống bậc thềm lên xuống làm cánh tay trái và khuỷu tay trái của ông L bị sây sát, chảy máu, Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Đặng Văn L là 02%. Tại thời điểm xảy ra sự việc ngày 21/3/2023, ông L là người trên 70 tuổi, có tiền sử bệnh Đái tháo đường; bệnh tăng huyết áp; bệnh bạch cầu dạng lympho (ung thư máu) thường xuyên khám và điều trị tại bệnh viện C thuộc trường hợp là người già yếu, ốm đau. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 134: Tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác":
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
[2.2] Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe người khác được pháp luật bảo vệ. Mặc dù bị cáo khai nhận có thực hiện hành vi đẩy ông L nhưng bị cáo cho rằng không cố ý gây thương tích cho ông L, tuy nhiên kết quả điều tra thể hiện bị cáo đã dùng hai tay mình nắm hai tay ông L đẩy về phía sau làm cho L ngã về phía sau. Bị cáo buộc phải biết hành vi của mình có thể gây thương tích cho bị hại, mặt khác bị cáo đã nhiều lần bị xử lý về hành vi gây thương tích cho người khác, gây rối trật tự công cộng...nhưng bị cáo vẫn thực hiện là thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường sức khoẻ người khác, gây ra dư luận xấu trong nhân dân. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.
[2.3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo thấy:
Toà án cấp sơ thẩm xác định bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; bị cáo không có tiền án; xác định bị cáo có 01 tiền sự do bị xử phạt vi phạm hành chính năm 2020 đến ngày 29/6/2023 bị cáo mới nộp tiền phạt là có căn cứ và đúng pháp luật. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai nhận có thực hiện hành vi đẩy bị hại ngã, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về mức hình phạt, xét tính chất, mức độ, hậu quả, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo H 06 tháng tù là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo thừa nhận hành vi của mình và đề nghị xin được hưởng án treo. Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo là người có nhân thân xấu, đang có 1 tiền sự về hành vi cố ý gây thương tích, đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính. Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, thì bị cáo không đủ điều kiện để xem xét cho hưởng án treo. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo cần giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm như quan điểm của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa.
[3] Về nội dung kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại thấy:
Như đã phân tích tại mục [2.3] nêu trên Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy Toà án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo mức án 06 tháng tù là phù hợp có căn cứ. Đối với đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “ có tính chất côn đồ” của Luật sư Phạm Văn H2 và anh T, bà N1, Hội đồng xét xử nhận thấy nguyên nhân dẫn đến sự việc xảy ra xuất phát từ mâu thuẫn giữa bị cáo và bị hại đã có tranh cãi, chửi bới nhau khi bị cáo dẫn 2 thợ đã đến sân nhà thờ để đo đạc đặt bức cuốn thư bằng đá thì ông L ra ngăn cản không cho làm dẫn đến bị cáo gây thương tích cho bị hại tổn thương 2% . Vì vậy, không có căn cứ áp áp dụng tình tiết tăng nặng “Có tính chất côn đồ” đối với bị cáo. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh T, bà N1.
[4] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không được chấp nhận nên bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Tuy nhiên xét thấy bị cáo, bà N2 là người cao tuổi nên miễn án
phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại là anh T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Văn H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HS-ST ngày 29/5/2024của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình về phần hình phạt đối với bị cáo, cụ thể như sau:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Căn cứ Điều 135; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Văn H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
[2] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo Đặng Văn H, bà Trần Thị N3. Anh Đặng Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 16/9/2024.
Nơi nhân:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa. Vũ Duy Luân |
Bản án số 75/2024/HS-PT ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự - cố ý gây thương tích
- Số bản án: 75/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn H
