Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TỊNH BIÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HS-ST

Ngày 30 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phí Thị Phương Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Phương và bà Lương Thị Hoàng Kim.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quốc Danh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên tham gia phiên tòa: Ông Chau Rết - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2024/HSST-QĐ ngày 27 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. C2, sinh ngày 01-01-1999 tại T - An Giang; nơi đăng ký thường trú: ấp M, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang; chỗ ở: ấp S, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Chau K và bà Neàng C (chết); vợ là Neàng Sóc C1 và 02 con.
  2. Nhân thân: Ngày 13-11-2020, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; đến ngày 14-6-2021, chấp hành xong hình phạt, đã được xóa án tích.

    Tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27-6-2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã T; có mặt.

  3. Chau Phương, sinh ngày 19-02-2004 tại T - An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: tổ A, ấp Đ, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Chau T và bà Neàng K1; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ hai; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  4. C3, sinh ngày 16-9-2001 tại T - An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: tổ 1, ấp Đ, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Chau N và bà Neàng K2; anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là người thứ ba; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; vắng mặt.

Bị hại: Ông Huỳnh Vũ L, sinh năm 1995, nơi cư trú: tổ G, ấp Đ, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang; có mặt.

Người làm chứng: Huỳnh Vũ T1, sinh năm 2001, vắng mặt; Neàng S, sinh năm 2004, có mặt; Neàng K1, sinh năm 1977, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 07-3-2024, do cần tiền tiêu xài nên C2 rủ Chau P, Chau Quanh N đi tìm tài sản lấy trộm thì P, N1 đồng ý. Kia điều khiển xe mô tô biển số 67D1-984.96 chở P, N1 đến khu đất vườn tại tổ A, ấp Đ, xã V, thị xã T phát hiện căn chòi của ông Huỳnh Vũ L không người trông giữ, phía bên ngoài có 01 bếp điện từ hiệu SANAKY nên lấy trộm để lên xe; Kia tiếp tục dùng tay kéo vách thiếc đi vào bên trong căn chòi lấy trộm củ huyền bên trong căn chòi để vào bao. Sau đó, K3 điều khiển xe mô tô chở P, N1 cùng số tài sản lấy trộm được về nhà N1 cất giấu. Do bên trong bếp điện từ có gắn thiết bị định vị nên ông L phát hiện và trình báo cơ quan Công an. Công an mời Kia, P, N1 làm việc thì K3, P, N1 thừa nhận hành vi lấy trộm tài sản và giao nộp tang vật.

Vật chứng thu giữ: 01 bao củ huyền trọng lượng 38kg; 01 bếp điện từ, nhãn hiệu SANAKY, màu đen; 01 hệ thống định vị, nhãn hiệu V (đã trả lại cho bị hại L); 01 xe mô tô biển số 67D1-984.96.

Tại Kết luận định giá tài sản số 432/KL-HĐĐG-TTHS ngày 27-3-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T xác định: 01 bao củ huyền trọng lượng 38kg, trị giá 532.000 đồng; 01 bếp điện từ, nhãn hiệu SANAKY, màu đen, trị giá 500.000 đồng; 01 hệ thống định vị, nhãn hiệu V, trị giá 1.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản 2.032.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 924/KL-KTHS ngày 07-7-2024 của Phòng K4 - Công an tỉnh A kết luận: xe mô tô biển số 67D1-984.96, có số khung RLCE55P10CY144---, số máy 55P1-144186 gửi giám định: số khung bị hoen gỉ; số máy không bị đục, sửa, cắt, hàn, tẩy, xóa, hoen gỉ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì khác.

Tại Cáo trạng số: 77/CT-VKSTB ngày 09 tháng 9 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên đã truy tố Chau S, Chau P, Chau Quanh N1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015).

Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo Chau Sóc K3, Chau P khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên. Các bị cáo Chau Sóc K3, Chau P đồng ý bồi thường thiệt hại về tài sản bị hư hỏng (tấm thiếc, cửa gỗ) cho bị hại với số tiền 1.500.000 đồng.

Bị hại Huỳnh Vũ L đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản bị hư hỏng (tấm thiếc, cửa gỗ) với số tiền 1.500.000 đồng và có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người làm chứng Neàng S, Neàng Ken có mặt tại phiên tòa khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng.

Người làm chứng Huỳnh Vũ T1 vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra trình bày nội dung phù hợp với Cáo trạng nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Chau Sóc K3 từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Chau P, Chau Quanh N từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt bổ sung, các bị cáo làm thuê, thu thập không ổn định nên đề nghị không áp dụng. Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng các Điều 46, 47 và 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, giao trả cho bà N2 Khươnl xe mô tô biển số 67D1-984.96; ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại về tài sản cho bị hại với số tiền 1.500.000 đồng.

Các bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.

Tại phiên toà, bị cáo Chau Quanh N1, người làm chứng Huỳnh Vũ T1 vắng mặt, dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, việc vắng mặt của bị cáo Chau Quanh N1 không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 290, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo Chau Sóc K3, Chau P đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 09 giờ ngày 07-3-2024, tại căn chòi của ông Huỳnh Vũ L thuộc tổ A, ấp Đ, xã V, thị xã T, các bị cáo Chau Sóc K3, Chau P, Chau Quanh N đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 bếp điện từ bên trong có gắn thiết bị định vị, trị giá 1.500.000 đồng và 01 bao củ huyền có trọng lượng 38kg, trị giá 532.000 đồng; tổng giá trị 2.032.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo Chau Sóc K3, Chau P, Chau Quanh N1 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Các bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên các bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý; các bị cáo đều là người trực tiếp thực hiện tội phạm, trong đó, bị cáo Chau Sóc K3 có vai trò tích cực, là người rủ rê và trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, các bị cáo Chau P, Chau Quanh Ny giữ vai trò giúp sức tích cực, cảnh giới cho bị cáo Chau Sóc K3. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; bị cáo Chau P, Chau Quanh N phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo là người dân tộc Khmer, học lực thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi, giao trả lại cho bị hại và bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét thấy:

Các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, về tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng. Bị cáo Chau Sóc K3 có nhân thân xấu, đã bị xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” vào năm 2020. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị buộc bị cáo Chau Sóc K3 phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo; mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo Chau Sóc K3 đã gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với các bị cáo Chau P, Chau Quanh N có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có lý lịch, nơi cư trú rõ ràng, là lao động chính trong gia đình, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; trong thời gian tại ngoại, các bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật, quy định địa phương, không phạm tội hoặc vi phạm nào khác. Điều này thể hiện, các bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho các bị cáo được cải tạo, giáo dục, chấp hành án dưới sự giám sát, giáo dục tại địa phương là điều kiện để các bị cáo tiếp tục lao động tạo thu nhập, chăm sóc gia đình, người thân và là cơ hội để các bị cáo tự tu dưỡng, rèn luyện chấp hành pháp luật, phù hợp chính sách hình sự nhân đạo của Nhà nước, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và cũng phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, các bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 bao củ huyền trọng lượng 38kg, 01 bếp điện từ nhãn hiệu Sanaky và 01 hệ thống định vị, quá trình điều tra đã trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết tiếp.

Đối với xe mô tô biển số 67D1-984.96 là tài sản của bà Neàng K2 (mẹ ruột của bị cáo N1) đưa cho bị cáo Chau Quanh N1 sử dụng làm phương tiện đi làm thuê, việc bị cáo N1 sử dụng xe vào việc phạm tội bà Neàng K2 không biết, không có lỗi nên cần giao trả xe mô tô biển số 67D1-984.96 cho bà Neàng K2.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại về tài sản cho bị hại với số tiền 1.500.000 đồng để buộc các bị cáo thực hiện.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Tuyên bố bị cáo Chau Sóc K3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt Chau Sóc K3 09 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 27-6-2024.

  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Tuyên bố bị cáo Chau P phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt Chau P 06 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách đối với bị cáo Chau P là 12 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Tuyên bố bị cáo Chau Quanh N1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt Chau Quanh N 06 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách đối với bị cáo Chau Quanh N1 là 12 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao các bị cáo Chau P, Chau Quanh Ny cho Ủy ban nhân dân xã V, thị xã T, tỉnh An Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 584, 585, 586, 587, 589, 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

    Buộc các bị cáo Chau Sóc K3, Chau P, Chau Quanh N có trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông Huỳnh Vũ L số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án số tiền nêu trên người phải thi hành án không trả được, thì các bên có quyền thỏa thuận lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Nếu các bên không thỏa thuận được thì người phải thi hành án phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  5. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Giao trả cho bà N2 Khươnl: 01 xe mô tô biển số 67D1-984.96, nhãn hiệu Yamaha, màu xanh, đã qua sử dụng (Đặc điểm vật chứng mô tả theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 24 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên).

  6. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc các bị cáo Chau Sóc K3, Chau P, Chau Quanh Ny mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

    Buộc các bị cáo Chau Sóc K3, Chau P, Chau Quanh N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

    Các bị cáo Chau Sóc K3, Chau P, bị hại Huỳnh Vũ L có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo Chau Quanh N1 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND TX. Tịnh Biên (2);
  • - Cơ quan CSĐT - Công an TX. Tịnh Biên (1);
  • - Nhà tạm giữ - Công an TX. Tịnh Biên (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục THADS thị xã Tịnh Biên (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phí Thị Phương Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 75/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HS Kia, Phương, Ny - TCTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger