|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 75/2024/HS-ST Ngày 20-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Thu Hà
- Ông Chu Đàm Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Lê Quang Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65A/2024/QĐXXST-HS ngày 06/6/2024 đối với bị cáo:
Vũ Văn K; Sinh ngày 19/01/1984, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Nơi thường trú: số E P, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Văn T (đã chết) và bà Dương Thị N; Có vợ là Phạm Thị H và 02 (Hai) con; Tiền án, tiền sự: Không; Đầu thú ngày 24/01/2024. Đang thực hiện Quyết định tạm giam (57 ngày kể từ 13/5/2024) của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên; Hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; Có mặt.
* Bị hại: ông Ngô Thanh B, sinh năm 1970. Nơi thường trú: khu T, phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1985. Nơi thường trú: khu D, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt;
- Ông Dương Văn K1, sinh năm 1983. Nơi thường trú: thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Văng mặt;
- Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1971. Nơi thường trú: khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt;
- Bà Dương Thị N, sinh năm 1951. Nơi thường trú: khu D, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
* Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Mạnh H2, sinh năm 1977. Nơi thường trú: khu G, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Nơi ở hiện nay: khu D, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt;
- Ông Vũ Văn T1, sinh năm 1985. Nơi thường trú: khu G, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt
1
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ông Ngô Thanh B được Công ty liên doanh V ký Hợp đồng giao quản lý, sử dụng ôtô BKS 14LD-0628 và vận chuyển khách tuyến M - Q. Sau khi ký hợp đồng, ông B giao xe cho anh H2 kinh doanh và thuê Dương Văn K1 làm phụ xe. Do vay nợ nhiều, mất khả năng thanh toán, ngày 26/10/2013, Vũ Văn K2 gọi điện cho K1 nhờ thuê hộ K2 ôtô nêu trên của anh H2 mục đích để K2 mang cầm cố lấy tiền chuộc xe của K2 (đã cầm cố trước đó) mang đi bán, rồi trả anh H2 nhưng anh H2 không đồng ý. Đến khoảng 11 giờ ngày 28/10/2013, khi ông B điều khiển xe, K1 làm phụ xe vận chuyển khách về đến thành phố H, tỉnh Quảng Ninh thì anh H2 gọi điện báo chờ ôtô BKS 14B-004.37 của anh H2 đang điều khiển tới để chuyển khách sang xe anh H2, sau khi chuyển hết khách sang xe anh H2 thì ông B giao ôtô BKS 14LD-0628 cho Khoa đồng thời K1 được anh H2 giao xe đưa đi sửa điều hoà. Cùng ngày, K2 rủ Nguyễn Văn D ra H chơi, ra đến H, K2 rủ K1 đi ăn cơm thì được biết K1 đang quản lý ôtô BKS 14LD-0628. Lúc này, K2, D và K1 cùng bàn bạc và thống nhất chiếm đoạt chiếc xe này mang đi cầm đồ lấy tiền tiêu, mặc dù biết xe là của Công ty nhưng K1 và D vẫn đồng ý. Sau đó cả 3 bị cáo cùng đi cầm cố xe nhưng không được (xe không có giấy tờ do bị Công an tạm giữ) nên đã điều khiển xe về thị xã Q.
Khoảng 10 giờ ngày 29/10/2013, K2 bảo K1 gọi điện cho anh Vũ Văn T1 để cầm cố chiếc xe lấy 80.000.000đ (T2 mươi triệu đồng), đến khoảng 14 giờ cùng ngày, D và K1 đưa xe đến khu G, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh để cầm cố cho T1 nhưng do không có giấy tờ nên T1 không đồng ý. K1 và D đã để ôtô lại nhà anh T1 làm tin và vay 12.000.000₫ để đi nộp phạt và lấy giấy tờ xe về. Anh T1 đồng ý, số tiền này được đưa lại cho K2, K2 nhận 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) và đưa lại 2.000.000đ (Hai triệu đồng) để D đi nộp phạt và lấy giấy tờ xe về. Khi có được giấy tờ xe, D và K1 tiếp tục đến cầm cố giấy tờ xe ôtô cho T1 để vay thêm 68.000.000₫ (Sáu mươi tám triệu đồng), anh T1 đồng ý. Số tiền này, D cầm 8.000.000đ (Tám triệu đồng) và K1 cầm 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng) về đưa K2. D và K2 đã chi tiêu cá nhân hết, sau đó cả 3 bị cáo bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 06/11/2013, ông Nguyễn Văn H1 là Giám đốc Công ty liên doanh V đã trình báo sự việc với Cơ quan điều tra Công an thị xã Q.
Ngày 07 và 09/10/2014, K1 và D ra đầu thú, ngày 27/8/2015 đã bị Toà án nhân dân huyện Yên Hưng (nay là Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên) xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 3 Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: K1 và D đã trực tiếp bồi thường tổng số tiền 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng) cho bị hại trong đó có 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng) của bị cáo K2. Bị hại không có yêu cầu nào khác.
Ngày 07/12/2015, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Q quyết định tách vụ án hình sự do Vũ Văn K2 bỏ trốn khỏi nơi cứ trú và bị truy nã. Ngày 24/01/2024, bị cáo đầu thú.
Về vật chứng thu giữ: 01 (Một) ôtô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại COUNTY, màu ghi, số máy L4AL 3190929, số khung KMJHD17LP4C020251 BKS 14LD-0628 và 01 Giấy chứng nhận đăng kiểm số 0416701 của ôtô BKS 14LD-0628. Ngày 06/12/2013, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Người đại diện hợp pháp của chủ sở hữu (Công ty liên doanh V).
2
Kết luận định giá tài sản số 144/KL-HĐĐG, ngày 03/12/2013 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Q: xác định 01 (Một) ôtô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại COUNTY, màu ghi, số máy D4AL3190929, số khung KMJHD17LP4C020251 BKS 14LD-0628 giá trị 320.000.000đ (Ba trăm hai mươi triệu đồng).
Cáo trạng số 422/CT-VKSQY ngày 24/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên truy tố Vũ Văn K2 về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 175; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Văn K2 từ 04 (Bốn) năm đến 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/01/2024.
Bị cáo Vũ Văn K2 khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu; việc bị truy tố và đưa ra xét xử là đúng người đúng tội, không oan; đã được thực hiện các quyền, nghĩa vụ, giải thích việc công bố bản án theo quy định của pháp luật. Năm 2015, khi xét xử bị cáo D và bị cáo K1, bị cáo đã liên hệ với 2 bị cáo để gửi tiền bồi thường khắc phục hậu quả với tổng số tiền 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng). Bị cáo khi đi khỏi địa phương vì không còn khả năng trả các khoản nợ, bị cáo không biết mình bị truy nã. Đến năm 2017, khi bị cáo ở Hồ N mới biết mình bị truy nã.
Bị hại - ông Ngô Thanh B có quan điểm: Thời điểm năm 2013, ông đứng tên chủ sở hữu xe ôtô BKS 14LD-0628 thuộc Công ty liên doanh V chạy tuyến M - Q. Trong thời gian này, có anh Nguyễn Văn D, Dương Văn K1 và Vũ Văn K2 có hành vi chiếm đoạt chiếc xe của ông. Cơ quan điều tra đã làm rõ nội dung vụ án, tạm giữ và trả lại xe cho ông và ông đã bàn giao lại xe cho Công ty. Anh K1 và anh D đã bị Toà án xét xử, riêng anh K2 đã bỏ trốn và bị truy nã đến tháng 01/2024 đã đầu thú và khai báo hành vi phạm tội, biết ăn năn hối cải, hiện anh K2 có mẹ già và con nhỏ và hành vi của anh K2 không còn gây thiệt hại cho ông B và Công ty. Trong thời gian K2 và đồng phạm cầm cố, xe của ông không kinh doanh được nên ông đã yêu cầu bị cáo bồi thường 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) và mẹ của bị cáo K2 (bà Dương Thị N) đã bồi thường thay; ông B đã nhận đủ tiền bồi thường và không có yêu cầu nào khác đồng thời xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo K2.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Văn H1 có quan điểm: Ngày 29/10/2013, tại thị xã Q, tỉnh Quản Ninh, anh Vũ Văn K2, Dương Văn K1 và Nguyễn Văn D cùng thực hiện hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là ôtô BKS 14LD-0628 trị giá 320.000.000đ (Ba trăm hai mươi triệu đồng) thuộc sở hữu của Công ty liên doanh V, thời điểm do ông (Nguyễn Văn H1) làm giám đốc và ký Hợp đồng giao cho anh Ngô Thanh B quản lý và sử dụng ôtô này. Vụ án có D và K1 đã bị Toà án xét xử. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho Công ty, ông và anh B không còn ý kiến gì. Ông được biết, anh K2 đã đầu thú, ăn năn hối lỗi. Ông đề nghị Toà án và Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên giảm nhẹ hình phạt cho K2 để K2 sớm trở về với gia đình và mẹ già cùng con nhỏ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn D khai: Khoảng 13 giờ ngày 28/10/2013, D và K2 ra H chơi thì gặp Dương Văn K1. K2 nói với D về việc K2 đã hỏi thuê xe của Nguyễn Mạnh H2 mấy ngày để mang đi cầm đồ; K2 nhờ D lái xe, D đồng ý. D điều khiển ôtô BKS 14LD-0628 đưa K1 và K2 ra H để cầm đồ nhưng không được do xe không có giấy tờ. Khoảng 10 giờ ngày 29/10/2013, K1 gọi điện cho Vũ Văn T1 để cầm
3
cố ôtô này lấy 80.000.000đ nhưng T1 không đồng ý do xe không có giấy tờ. K2 nói để xe lại và vay T1 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng) để đi lấy giấy tờ, khi nào có giấy tờ thì lấy 68.000.000₫ sau. D điều khiển xe, chở K1 sang nhà Đ và trao đổi với T1 như nội dung K2 nói, T1 đồng ý và đưa D 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng), D để xe lại cho T1 quản lý đồng thời viết Giấy vay nợ T1. Sau đó, D và K1 đưa lại toàn bộ số tiền cho K2, K2 đưa D 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) đi H nộp phạt, nhận giấy tờ xe về mang tới nhà T1 để vay thêm tiền như đã thống nhất, T1 nhận giấy tờ và giao cho K1 68.000.0000đ (Sáu mươi tám triệu đồng). K1 đưa D 8.000.000đ (Tám triệu đồng) còn 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng) K1 cầm. D, K2 và K1 cùng bàn bạc, thống nhất chiếm đoạt xe ôtô trên của ông Ngô Thanh B, sau đó mang đi cầm cố cho anh Vũ Văn T1 80.000.000₫ (Tám mươi triệu đồng). Quá trình giải quyết vụ án, K2 đã chuyển cho D 30.000.000đ (trong tổng số 80.000.000đ) để cùng bồi thường cho T1. D cam đoan và xin chịu trách nhiệm về nội dung này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Văn K1 khai: khoảng tháng 10 năm 2013, K1 đã cùng D và K2 bàn bạc cùng nhau chiếm đoạt xe ôtô BKS 14LD - 0628 của ông Ngô Thanh B rồi mang đi cầm cố cho anh Vũ Văn T1 lấy 80.000.000đ (T2 mươi triệu đồng). Quá trình giải quyết vụ án trước đây, K1 và D đã bồi thường 80.000.000đ (T2 mươi triệu đồng) cho anh T1 là có cả 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) của K2 đưa cho K1. K1 khẳng định trong tổng số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) trả cho anh T1 có tiền của K2.
Toà án đưa vụ án ra xét xử, gia đình bị cáo gửi tài liệu, chứng cứ xác nhận gia đình bị cáo đầu tư kinh phí nâng cấp, chỉnh trang đường phố khu dân cư và đóng góp nhiều loại quỹ của khu phố được UBND phường P, thị xã Q ghi nhận tấm lòng vàng và tặng Giấy khen công dân khu phố có thành tích xuất sắc, tiêu biểu năm 2023.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Dương Thị N khai: bà tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền này, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Gia đình bà đã đóng góp tích cực cho khu phố và địa phương, rất mong Hội đồng xét xử xem xét căn cứ cho bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật. Về quan hệ hôn nhân thì bị cáo đã ly hôn với cháu Nguyễn Châu A và đã kết hôn với cháu Phạm Thị H, sinh năm 1984, có 02 con trai sinh đôi là Vũ Nhật M và Vũ Nhật Q.
Người làm chứng Nguyễn Mạnh H2 có lời khai thể hiện: Khoảng 10 giờ ngày 28/10/2013, K1 gọi điện bảo với anh H2 rằng K2 nhờ K1 thuê ôtô BKS 14LD-0628 một ngày để K2 đi cầm cố vay tiền chuộc ôtô của K2 để bán, tiền thuê xe hết bao nhiêu thì K2 trả thì anh H2 không đồng ý. Đến chiều, anh H2 gọi lại cho K1 hỏi xe thì K1 bảo đang mang đi sửa, sau đó K1 cùng ai mang xe ôtô BKS 14LD-0628 đi đâu làm gì thì anh H2 không biết. Sáng ngày 31/10/2013, khi anh H2 điều khiển xe đến cổng trường THCS Y thuộc phường Y, thị xã Q thì thấy ôtô BKS 14LD-0628 đang đỗ ven đường. Qua gọi điện cho Vũ Văn T1 thì anh H2 được biết K1 cùng Nguyễn Văn D đã mang chiếc xe ôtô này cầm đồ cho anh T1 để vay 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng), K1 và D đều thừa nhận sự việc trên và K1 bảo ngày hôm sau sẽ chuộc lại xe nhưng K1 không chuộc lại. Anh H2 đã liên hệ với K1, D và K2 nhưng không được, nghĩ cả 03 đã bỏ trốn nên anh H2 đến Công an trình báo sự việc. Đối với chiếc ôtô này anh B là người có trách nhiệm quản lý, sử dụng và chịu trách nhiệm với Công ty. Anh H2 không có quyền định đoạt, cầm cố hay cho mượn chiếc ô tô này.
Người làm chứng anh Vũ Văn T1 có lời khai thể hiện: Ngày 29/10/2013, K1 liên hệ với anh T1 để cầm cố chiếc ôtô BKS 14LD-0628 để vay 90.000.000đ (Chín mươi
4
triệu đồng). Anh T1 nói cho vay 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng) và phải thế chấp lại ôtô để làm tin thì K1 đồng ý nhưng xe không có giấy tờ nên anh T1 không chấp nhận. D và K1 điều khiển xe đi khoảng 15 phút sau thì quay lại nhà anh Đ. D và K1 nói với anh T1 cho vay 12.000.000₫ (Mười hai triệu đồng) trước để đi lấy giấy tờ xe về vì giấy tờ xe bị tạm giữ do vi phạm giao thông, còn 68.000.000₫ (Sáu mươi tám triệu đồng) khi nào lấy đủ giấy tờ xe về thì D và K1 lấy tiếp. Anh T1 tin tưởng đã cho D và K1 vay làm 02 lần tiền (một lần 12.000.000đ, một lần 68.000.000đ) như nội dung vụ án đã nêu.
Phần tranh luận: Không ai tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Thời điểm xét xử K1 và D, bị cáo bỏ trốn nhưng đã chuyển 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng) bồi thường cho bị hại. Quá trình giải quyết vụ án này, bị cáo đã nhờ mẹ (bà Dương Thị N) bồi thường 10.000.000đ (Mười triệu đồng) cho bị hại Nguyễn Thanh B1 để khắc phục hậu quả do bị cáo gây ra. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng tốt nhất của pháp luật. Bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Văn K2 về việc do cần tiền chi tiêu nên K2, Dương Văn K1 và Nguyễn Văn D đã dùng thủ đoạn gian dối mượn tài sản để chiếm đoạt rồi mang đi cầm cố cho anh Vũ Văn T1 để lấy tiền chi tiêu cá nhân rồi bỏ trốn, phù hợp với lời khai của của bị hại; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc tài sản bị chiếm đoạt; phù hợp lời khai của những người làm chứng; phù hợp với Biên bản tiếp nhận nguồn tin tội phạm; Bản kết luận định giá tài sản; Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử; Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú và các tài liệu khác.
Như vậy, đủ căn cứ kết luận: Ngày 29/10/2013, tại thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Dương Văn K1 sau khi nhận được xe ôtô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại COUNTY, màu ghi, số máy D4AL3190929, số khung KMJHD17LP4C020251, BKS 14LD-0628 trị giá 320.000.000đ (Ba trăm hai mươi triệu đồng) từ ông Ngô Thanh B, K1 cùng Vũ Văn K2 và Nguyễn Văn D đã dùng thủ đoạn mang đến khu G, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh cầm cố chiếc xe cho anh Vũ Văn T1 lấy 80.000.000đ (T2 mươi triệu đồng) rồi bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đang do mình quản lý.
Căn cứ tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã Q đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn D, Dương Văn K1 và Vũ Văn K2 về hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 và năm 2015 Tòa án nhân dân huyện Yên Hưng (nay là Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên) đã xét xử đối với D và
5
K1. Riêng Vũ Văn K2 bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã Q đã ra quyết định truy nã, quyết định tách vụ án hình sự đối với hành vi phạm tội của Vũ Văn K2, tạm đình chỉ điều tra để xử lý sau. Ngày 24/01/2024, K2 trở về đầu thú, Cơ quan điều tra đã ra quyết định đình nã, quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự và quyết định phục hồi điều tra bị can.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 cuả Quốc hội; khoản 3 Điều 7 và khoản 3 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015: Hiệu lực của Bộ luật Hình sự về thời gian: “Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành”.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên truy tố bị cáo Vũ Văn K2 về hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 175 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả.
...
3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản giá trị từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm”
Đối với hành vi của Dương Văn K1 và Nguyễn Văn D đã bị Toà án xét xử; Đối với Nguyễn Mạnh H2, Cơ quan điều tra chưa đủ tài liệu, chứng cứ kết luận phạm tội nên cơ quan điều tra xử lý sau. Đối với Vũ Văn T1 có hành vi cầm cố chiếc ôtô BKS 14LD - 0628 nhưng không biết Dương Văn K1 và Nguyễn Văn D phạm tội mà có đồng thời đã bị xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[3] Tính chất mức độ, hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Vũ Văn K2 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang, lo lắng cho những người xung quanh và ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức, cá nhân kinh doanh vận chuyển hành khách; bất chấp niềm tin của người khác, vì muốn có tiền chi tiêu đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác. Do đó, cần xử lý nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện khắc phục hậu quả; bị cáo tự nguyện ra đầu thú; bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; gia đình bị cáo có nhiều thành tích đóng góp xây dựng
6
địa phương. Đây là những tình tiết xem xét giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên đề nghị áp dụng điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp.
Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo cần thiết phải bắt cách ly khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng, phòng ngừa chung đồng thời đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo cùng với các bị cáo khác đã thực hiện hành vi phạm tội cách thời điểm xét xử vụ án này đã hơn 10 năm, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng nhận thấy mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội giảm, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó, việc xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ răn đe và giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường, không ai có yêu cầu nào khác, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[6] Về vật chứng: Xe ôtô BKS 14LD -0628 đã trả lại chủ sở hữu, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 175; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1 Điều 7; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015;
Tuyên bố: Vũ Văn K2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Vũ Văn K2 04 (B2) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/01/2024
Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Vũ Văn K2 chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo quyền khánhg cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thanh Tâm |
7
8
6
Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 75/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn K phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản"
