Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN P

TỈNH THÁI NGUYÊN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 75/2024/HS-ST

Ngày 07 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hồng Nam;

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Ngọc Ngư;
  • 2. Ông Nguyễn Văn Thuyết.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Triệu Đức Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện P. Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên xét xử lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễn Văn Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không

Sinh ngày 05 tháng 11 năm 1992.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm N, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Họ tên cha: Nguyễn Văn M, (Đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1971; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

Vợ, con: Chưa có.

- Tiền án: Có 01 tiền án, ngày 18/4/2023, TAND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 20 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý. Ngày 20/5/2024, Đ chấp hành xong bản án.

- Tiền sự: không.

- Nhân thân:

  • + Ngày 31/03/2017, TAND huyện P xử phạt 42 tháng tù giam về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, ngày 19/9/2019 thì chấp hành xong (hiện đã được xoá án tích).
  • + Ngày 21/4/2021, TAND Quân 4, thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng. Chấp hành xong ngày 21/7/2022.
  • + Ngày 16/9/2022, TAND huyện P, tỉnh Thái Nguyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 27/6/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P.

(Có mặt tại phiên tòa)

- Người chứng kiến: Anh Đào Duy T1, sinh năm 1983;

Nơi ĐKHKTT: xóm B, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 15 phút ngày 27/6/2024, tại khu vực xóm B, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, tổ công tác của Công an xã Y trong khi làm nhiệm vụ đã phát hiện Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1992; Trú tại: Xóm N, xã Y, huyện P có dấu hiệu tàng trữ trái phép chất ma tuý. Quá trình kiểm tra, Đ tự giác lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc trên người 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng Đ khai là ma tuý loại Heroine giao nộp cho tổ công tác. Đ khai nhận số ma tuý trên là do Đ mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn Đ và niêm phong số tang vật trên theo quy định (ký hiệu T1) và đưa Đ cùng toàn bộ vật chứng về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P để giải quyết theo thẩm quyền.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn Đ tại xóm N, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả khám xét, không phát hiện thu giữ gì.

Cùng ngày, tại phòng K Công an tỉnh T, những thành phần có liên quan tiến hành cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ của Đ trong phong bì ký hiệu T1 có khối lượng 0,020gam và lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định (ký hiệu A1).

Tại bản Kết luận giám định số 791 /KL-KTHS ngày 05/7/2024, của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận:

- Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy; loại: Heroine; có khối lượng là: 0,020gam.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Đ khai nhận. Khoảng 11 giờ, ngày 27/6/2024, Đ một mình đi bộ từ nhà ở của mình tại xóm N, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên sang khu vực xóm B, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên mục đích tìm mua ma tuý về sử dụng cho bản thân. Khi Đ đi đến nơi thì Đ có gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi. Qua giao dịch và trao đổi, Đ đã mua của người đàn ông này 01 gói chất bột màu trắng là ma tuý loại Heroine được gói bên ngoài bằng lớp giấy bạc màu vàng với giá 100.000đ (một trăm ngàn đồng). Mua được H. Đ cất giấu vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi bộ quay ra để đi về. Khi Đ đang đi ở đoạn đường thuộc xóm B, xã Y, huyện P thì bị Công an xã Y, huyện P phát hiện và bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Lời khai của người chứng kiến; Vật chứng thu giữ; Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Do có hành vi trên tại bản cáo trạng số 70/CT-VKSP ngày 08/10/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên trình bày lời luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn Đ, từ 24 đến 30 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phần tranh tụng: Bị cáo không tranh tụng.

Nói lời sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét giảm án cho bị cáo để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Xét về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ căn cứ để xác định: Nguyễn Văn Đ là người đã bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, chưa được xoá án tích. Hồi 11 giờ 15 phút ngày 27/6/2024, tại xóm B, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Nguyễn Văn Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,020gam Heroine để sử dụng cho bản thân khi chưa kịp sử dụng thì bị Công an xã Y, huyện P phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo xác định số ma túy trên mua của 01 người đàn ông không quen biết tại khu vực xóm B, xã Y, với số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng).

Bản Cáo trạng số 70/CT-VKSP ngày 08/10/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Điều 249 Bộ luật hình sự quy định như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

a) Đã bị ... bị kết án về tội này ... chưa được xoá án tích mà còn vi phạm”

[3] Xét tính chất của vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Việc truy tố và xét xử bị cáo là cần thiết để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy:

  • - Bị cáo có 01 tiền án, ngày 18/4/2023, TAND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 20 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý. Ngày 20/5/2024, Đ chấp hành xong bản án và 01 tiền sự ngày 16/9/2022, TAND huyện P, tỉnh Thái Nguyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng (Đ chưa chấp hành Quyết định nêu trên).
  • - Về nhân thân:
    • + Ngày 31/03/2017, TAND huyện P xử phạt 42 tháng tù giam về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, ngày 19/9/2019 thì chấp hành xong (hiện đã được xoá án tích).
    • + Ngày 21/4/2021, TAND Quân 4, thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng. Chấp hành xong ngày 21/7/2022.
  • - Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự . Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy bị cáo là người nghiện ma túy có nhân thân sấu, phạm tội với lỗi cố ý, không có ý thức chấp hành pháp luật nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, buộc cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung, xét thấy bị cáo là người nghiện chất ma túy hiện đang bị tạm giam, không có tài sản thu nhập riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng là ma túy và vỏ bao giấy gói.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[8] Trong vụ án này còn có người nam giới đã bán ma túy cho bị cáo tại khu vực xóm B, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Do bị cáo không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có đủ cơ sở xác minh làm rõ.

[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác là phù hợp, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;

1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ - phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự .

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/6/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên ngoài ghi: Hoàn lại 0,010 gam mẫu sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 bì niêm phong ký hiệu A2, bên ngoài ghi: Bên trong có 01 bì T1 và vỏ giấy gói.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận số 04/2024 ngày 14/10/2024 giữa Công an huyện P và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Lương).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện P;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện P;
  • - Công an huyện P;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ THAHS;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Hồng Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 75/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ là người đã bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, chưa được xoá án tích. Hồi 11 giờ 15 phút ngày 27/6/2024, tại xóm B, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Nguyễn Văn Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,020gam Heroine để sử dụng cho bản thân khi chưa kịp sử dụng thì bị Công an xã Y, huyện P phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo xác định số ma túy trên mua của 01 người đàn ông không quen biết tại khu vực xóm B, xã Y, với số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger