|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 75/2024/HS-PT Ngày 11 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thắm
Các Thẩm phán: Ông Thái Văn Hà
Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Duy Phương là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Hồ Kim Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Võ Thị Mỹ N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2024/HS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
Bị cáo có kháng cáo:
Võ Thị Mỹ N, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1990, tại Bình Định; nơi cư trú: Khu phố E, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn N1, sinh năm 1970 và bà Trần Thị Thu T, sinh năm 1970; có chồng tên Nguyễn Văn T1, sinh năm 1985; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ông Võ Minh T2, sinh ngày 01/9/1993, ở thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định và Võ Thị Mỹ N có mối quan hệ làm ăn, quen biết nhau từ trước.
Vào giữa tháng 6/2022, ông T2 nhờ N liên hệ các Ngân hàng có trụ sở trên địa bàn phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định để làm thủ tục vay vốn thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với số tiền dao động từ 1.800.000.000 đồng đến 2.100.000.000 đồng thì N đồng ý. Nhung tiến hành liên hệ với các Ngân hàng nhưng không có Ngân hàng nào chấp nhận vì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất T2 dùng thế chấp có giá trị thấp, hạn mức vay tối đa chỉ được 1.000.000.000 đồng. N nói lại việc không vay được tiền cho T2, nhưng do đang cần tiền nên T2 vẫn nài nỉ nhờ N vay tiền giúp. Lúc này, N có khó khăn trong công việc làm ăn nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của T2. N mua sim số 0384897731 gắn luân phiên vào các máy điện thoại Samsung A21S, Iphone 6 Gold, gửi cho T2 số điện thoại “0384.897.xxx” nói là số điện thoại của nhân viên Ngân hàng đang làm hồ sơ vay tiền. T2 tin là thật, gọi điện thoại đến số 0384.897.xxx thì N mang khẩu trang, bịt mũi giả giọng miền B nói chuyện với T2. N tự giới thiệu với T2 mình là nhân viên ngân hàng đang làm hồ sơ vay tiền cho T2 và đưa ra các thông tin gian dối: cần “tiền bôi trơn”, “tiền bồi dưỡng”, “tiền trà nước” để làm thủ tục vay tiền, bồi dưỡng cho các nhân viên khác trong Ngân hàng ... yêu cầu T2 chuyển khoản tiền đến các tài khoản khác nhau để chiếm đoạt, gồm: số tài khoản 101869061972 Ngân hàng V1 của Võ Đình V; số tài khoản 040112164989 Ngân hàng S của Nguyễn Thanh T3; số tài khoản 104875188491 Ngân hàng V1 của Nguyễn Tất T4; số tài khoản 107006623425 Ngân hàng V1 của Võ Thị Hồng H; số tài khoản 040095393952 Ngân hàng S của Nguyễn Thành Q và số tài khoản 103872285238 Ngân hàng V1 của Trần Thị Kiều N2 nói dối với những người này là tài khoản Ngân hàng của N2 bị lỗi, không nhận được thông báo biến động số dư tài khoản và mượn tài khoản những người này để nhận tiền hàng, sau đó yêu cầu họ chuyển tiền lại cho N2 vào tài khoản Ngân hàng S số [...], Ngân hàng V1 số [...] hoặc N2 đến gặp trực tiếp để nhận tiền mặt. Với thủ đoạn nêu trên, từ ngày 17/6/2022 đến ngày 06/12/2022, N2 đã yêu cầu T2 chuyển khoản làm hồ sơ vay tiền Ngân hàng, như sau:
- - N2 yêu cầu T2 chuyển khoản 26 lần đến tài khoản của Võ Đình V, tổng số tiền 194.080.000 đồng;
- - N2 yêu cầu T2 chuyển khoản 14 lần đến tài khoản của Ngô Tất T5, tổng số tiền 103.260.000 đồng;
- - N2 yêu cầu T2 chuyển khoản 09 lần đến tài khoản của Võ Thị Hồng H, tổng số tiền 60.900.000 đồng;
- - N2 yêu cầu T2 chuyển khoản 05 lần đến tài khoản của Nguyễn Thanh T3, tổng số tiền 46.800.000 đồng;
- - N2 yêu cầu T2 chuyển khoản 04 lần đến tài khoản của Nguyễn Thành Q, tổng số tiền 48.000.000 đồng;
- - N2 yêu cầu T2 chuyển khoản 01 lần đến tài khoản của Trần Thị K, số tiền 10.000.000 đồng;
Tổng cộng, Võ Thị Mỹ N đã 59 lần chiếm đoạt tổng số tiền 463.040.000 đồng của Võ Minh T2. Quá trình lừa đảo nhằm củng cố niềm tin cho T2, N còn dùng thủ đoạn chuyển khoản trả lại cho T2 04 lần với tổng số tiền là 14.500.000 đồng với lý do nhân viên Ngân hàng chuyển trả tiền vì không giúp được.
Đến đầu tháng 12/2022, Võ Minh T2 thấy số tiền chuyển cho Võ Thị Mỹ N đã nhiều nhưng không thấy Ngân hàng nào cho vay tiền nên nghi ngờ N lừa đảo. Ngày 14/12/2022, T2 có đơn tố cáo N đến Công an phường B, thị xã H để xử lý.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2024/HS-ST ngày 29/02/2024, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn đã căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 06 năm tù về tội danh “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Buộc bị cáo Võ Thị Mỹ N phải có nghĩa vụ bồi thường cho anh Võ Minh T2 số tiền 88.540.000đ.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Ngày 08/3/2004, bị cáo Võ Thị Mỹ N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên toà, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên hình phạt của Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định:
Trong khoảng thời gian từ ngày 17/6/2022 đến ngày 06/12/2022, trên địa bàn thị xã H, tỉnh Bình Định, Võ Thị Mỹ N đã dùng thủ đoạn gian dối làm cho anh Võ Minh T2 tin rằng bị cáo có khả năng nhờ cán bộ Ngân hàng để vay tiền cho T2 cao hơn hạn mức quy định nên đã 59 lần chiếm đoạt tiền của anh T2 với tổng số tiền 448.540.000 đồng. Do đó, bản án Hình sự số 21/2024/HS-ST ngày 29/2/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn đã xét xử bị cáo Võ Thị Mỹ N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiệm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần trở lên nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm b, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Thị Mỹ N 06 năm tù là dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp đơn xin xác nhận nhân thân và hoàn cảnh khó khăn và hiện vừa mới sinh con, nhưng đây là tình tiết thuộc quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét khi quyết định hình phạt nên không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Giữ nguyên mức hình phạt của Bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí: Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định về phần hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Thị Mỹ N; giữ nguyên Bản án sơ thẩm về phần hình phạt.
- Xử phạt bị cáo Võ Thị Mỹ N 06 (sáu) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Võ Thị Mỹ N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Thắm |
Bản án số 75/2024/HS-PT ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 75/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
