TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2024/HS-PT
Ngày 10 tháng 12 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Văn Toàn |
| Các thẩm phán: | Ông Nguyễn Khắc Chiên |
| Bà Lê Thị Thu Huyền | |
| Thư ký phiên tòa: | Trần Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ. |
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 10 năm 2023 do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sơ thẩm số: 38/2024/HSST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo kháng cáo:
Lê Tiến B, sinh ngày 15/10/1982 tại huyện T, tỉnh Yên Bái; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện T, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn P (đã chết) và bà Bùi Thị T, sinh năm 1940; Có vợ là Đỗ Thị Thu A, sinh năm 1988 và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2017). Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án số 46/2019/HS-PT ngày 30/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xử phạt 8 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 1 năm 4 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “đánh bạc”, phạt bổ sung 10.000.000 đồng, buộc phải chịu 200.000 đồng tiền án phí. Đến ngày 25/11/2019, B đã nộp hết các khoản trên, đến ngày 28/2/2021, B chấp hành xong thời gian thử thách, đến ngày phạm tội lần này (31/8/2023), B đã chấp hành xong bản án trên, đã được xoá án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 31/8/2023 đến ngày 07/9/2023 chuyển tạm giam đến 29/10/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã M, huyện T, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 00 ngày 31/8/2023, đội Cảnh sát hình sự - Công an huyện H phát hiện và bắt quả tang tại bãi đất trống ven đồi cây Kakeo của gia đình ông Nguyễn Xuân T1 (sinh năm 1964) thuộc khu 19 xã X, huyện H, tỉnh Phú Thọ có một số đối tượng đang đánh bạc dưới hình thức “Xóc đĩa” được thua bằng tiền, bắt giữ tại chỗ 04 đối tượng đánh bạc gồm: Lê Tiến B, Nguyễn Đình L, Nguyễn Thị H, Bùi Tiến C và 01 đối tượng cảnh giới là Nguyễn Thị T2. Thu giữ tại chiếu bạc và nơi bắt giữ các đối tượng gồm: 01 chiếc bạt, 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 02 quân bài tú lơ khơ và tiền trên người các đối tượng sử dụng để đánh bạc tự nguyện giao nộp là 25.600.000 đồng. Ngoài ra còn một số đối tượng khác đã lợi dụng địa hình đồi núi bỏ chạy và trốn thoát. Đội Cảnh sát hình sự Công an huyện H đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa các đối tượng cùng vật chứng về Cơ quan CSĐT để điều tra, làm rõ. Tại Cơ quan CSĐT, các đối tượng trên đã khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc của mình. Ngoài ra, các đối tượng còn khai khi tham gia đánh bạc còn có đối tượng Nguyễn Duy N, Phạm Công K, Phạm Thị Hồng Á, Nguyễn Anh T3, Lê Duy H1, Nguyễn Viết T4, Nguyễn Đình D, Hà Công Ư; Lê Anh T5, Nguyễn Thị N1 và Lê Văn N2 cũng tham gia đánh bạc; Nguyễn Mạnh H2 canh gác, cảnh giới cho các đối tượng trên đánh bạc và thu tiền hồ, khi bị công an phát hiện, tất cả các đối tượng trên đã bỏ chạy.
Ngày 01/9/2023, Cơ quan CSĐT đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Duy N, thu giữ: 02 bộ bài T6 lơ khơ thu giữ tại phòng bếp nhà N; 01 thẻ nhớ thu giữ của C1 tại sân nhà Nhất. Thu giữ 13 chiếc xe máy tại sân nhà N gồm: 01 xe máy Wave a, biển kiểm soát 19F1-274.94; 01 xe máy Dream, biển kiểm soát 98H3-5600; 01 xe máy AIRBLADE, biển kiểm soát 19F1-063.24; 01 xe máy Wave a, biển kiểm soát 88K2-9807; 01 xe máy RC“ESPERO”, biển kiểm soát, 19AE - 014.38; 01 xe máy AIRBLADE, biển kiểm soát 19F1-269.89; 01 xe máy Wave a, biển kiểm soát 19F1-104.83; 01 xe máy Dream, biển kiểm soát 21B1-904.27; 01 xe máy Wave không tem mác, biển kiểm soát 17B7-024.19; 01 xe máy nhãn hiệu WINERX, biển kiểm soát 21F1-205.91; 01 xe máy Wave S, biển kiểm soát 19F1-119.45; 01 xe máy SH màu đỏ, biển kiểm soát 19F1-349.62; 01 xe máy Wave a, biển kiểm soát 29U1-293.32.
Căn cứ vào lời khai của các đối tượng trên, Cơ quan CSĐT đã triệu tập các đối tượng bỏ chạy đến làm việc. Những ngày sau đó thì lần lượt có các đối tượng Nguyễn Duy N, Phạm Công K, Phạm Thị Hồng Á, Nguyễn Anh T3, Nguyễn Đình D, Hà Công Ư, Lê Duy H1, Nguyễn Thị N1, Lê Văn N2 và Nguyễn Mạnh H2 đã đến Công an huyện H đầu thú. Riêng đối tượng Nguyễn Viết T4 và Lê Anh T5 đã ra làm việc theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra, các đối tượng trên đã khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc của bản thân và các đồng phạm. Nguyễn Mạnh H2 tự nguyện giao nộp số tiền 2.900.000 đồng, là tiền H2 khai có được từ thu phế của những người đánh bạc; Lê Duy H1 giao nộp số tiền 400.000 đồng, là tiền H1 dùng vào việc đánh bạc; Bùi Tiến C giao nộp 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus đã cũ; Nguyễn Thị H giao nộp 01 điện thoại NOKIA màu đen, lắp sim số 0397481928; Chị Bùi Thị Kim L1 là vợ của Nguyễn Duy N giao nộp số tiền 9.000.000 đồng, là số tiền N cầm trên chiếu bạc rồi bỏ chạy; Nguyễn Mạnh H2 giao nộp 01 điện thoại Masstel màu đen cũ, lắp sim số 0333848598; Lê Văn N2 giao nộp số tiền 2.000.000 đồng sử dụng vào đánh bạc, đã cầm theo khi bỏ chạy; Lê Tiến B giao nộp 01 điện thoại OPPO A57 màu xanh cũ; Nguyễn Thị T2 giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C11 đã cũ;
Ngày 07/9/2023, Cơ quan CSĐT đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự; Ra quyết định khởi tố Bị cáo đối với 9 đối tượng. Trong đó, ra Quyết định khởi tố Bị cáo đối với Nguyễn Mạnh H2 và Nguyễn Thị T2 về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; Ra quyết định khởi tố Bị cáo đối với Nguyễn Duy N, Phạm Công K, Lê Tiến B, Nguyễn Đình L, Nguyễn Thị H, Bùi Tiến C và Nguyễn Viết T4 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Đến ngày 22/9/2023, Cơ quan CSĐT ra Quyết định khởi tố Bị cáo đối với: Phạm Thị Hồng Á, Nguyễn Đình D, Hà Công Ư, Lê Anh T5, Lê Duy H1, Nguyễn Thị N1 và Lê Văn N2 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Đối với Nguyễn Anh T3, là người đã thực hiện hành vi phạm tội đánh bạc cùng 14 Bị cáo khác trong vụ án, tuy nhiên T3 khai nhận đang điều trị bệnh tâm thần và giao nộp cho Cơ quan CSĐT hồ sơ, bệnh án điều trị bệnh tâm thần. Vì vậy, Cơ quan CSĐT đã tiến hành trưng cầu giám định tâm thần đối với T3, khi nào có đủ cơ sở sẽ xử lý sau.
Quá trình điều tra, làm rõ nội dung vụ án như sau:
Khoảng 9 giờ ngày 31/8/2023, khi N đang ở nhà tại khu A xã X, thì lần lượt có Lê Tiến B, Lê Anh T5 và Nguyễn Mạnh H2 đến chơi. Sau đó, N có mời B, T5 và H2 ở lại nhà mình ăn cơm, uống rượu. Khi đang ăn thì có Hà Công Ư đến và ngồi cùng. Sau khi ăn xong, cùng ngồi uống nước tại phòng khách nhà N. Lúc này có thêm Phạm Công K đến chơi, lúc này, N rủ những người có mặt đánh bạc, tất cả đều đồng ý. Sau khi được N rủ, H2 liền bảo Nhất là để H2 đứng ra tổ chức cho đánh bạc (chuẩn bị công cụ và cảnh giới), tất cả đồng ý.
Sau đó, các đối tượng tiếp tục gọi điện rủ thêm những đối tượng khác đến chơi. Trong đó, N gọi điện rủ Nguyễn Thị N1, sau đó Nguyễn Đình L gọi điện đến cho N hỏi về việc đánh bạc thì N cũng rủ L tham gia cùng. Tiếp đến, N gọi điện rủ Lê Duy H1 và bảo H1 qua nhà đón L đến để đánh bạc. Khi H1 đến đón L đi đánh bạc thì Nguyễn Đình D (anh trai L) cũng biết được việc đánh bạc nên đã đi theo sau. Còn N1 trên đường đi xuống nhà N thì gặp Phạm Thị Hồng Á, N1 đã rủ Á đi đánh bạc và Á đồng ý đi cùng N1. Cùng lúc này H2 cũng gọi điện rủ Bùi Tiến C và Nguyễn Thị H đến nhà N để đánh bạc. Khi có thêm N1, Á, C và H đến thì N bảo tất cả mọi người sang đồi cây Kakeo phía đối diện nhà N.
Còn H2 về nhà mình để lấy công cụ đánh bạc. Trên đường về thì H2 có gặp Nguyễn Anh T3, H2 rủ T3 tham gia đánh bạc, T3 đã đồng ý. Sau đó, H2 đi về nhà lấy bạt, bát, đĩa và kéo rồi cùng T3 đi sang nhà Nguyễn Thị T2 để lấy nước. Tại đây, H2 gặp T2 và cả hai thống Nhất với nhau, T2 sẽ lên đồi cây phía gần nhà N đứng cảnh giới để cho những người khác đánh bạc, khi nào phát hiện người lạ hoặc Công an thì thông báo cho H2 và khi nào kết thúc buổi đánh bạc H2 sẽ trả cho T2 200.000 đồng. Sau khi thống nhất xong, H2 dẫn T2 đến vị trí cảnh giới rồi cùng T3 tiếp tục đi đến vị trí nơi N và những người khác đang đứng đợi. Khi B đang đợi H2 mang công cụ đến thì có Lê Văn N2 và Nguyễn Viết T4 gọi điện cho B hỏi có đánh bạc không thì B đã rủ N2 và T4 tham gia cùng, N2 và T4 đồng ý tham gia.
Khi H2 và T3 đến thì lúc này có thêm L, H1 và D cũng có mặt. Vị trí các đối tượng chọn để đánh bạc là bãi đất trống giáp đồi cây ka keo của gia đình ông Nguyễn Xuân T1, H2 trải bạt tại vị trí các đối tượng đang đứng và để bát đĩa xuống bạt. Lúc này, K đã lấy kéo do H2 mang đến rồi cắt 04 quân vị từ bao thuốc lá rồi bỏ vào đĩa, N cũng bỏ 04 quân bài đã mang theo trước đó từ nhà và đặt xuống chiếu để làm vị. Sau đó, N lấy từ túi quần ra 20.000.000 đồng để làm vị thì K, B và T5 đã xin làm chung với N. Cả 04 người thống nhất Tỷ lệ ăn chia cụ thể là Nhất 40%, còn lại T5; K và B mỗi người 20%. N sẽ là người xóc cái và K sẽ quản lý tiền vị. Việc thanh toán thắng thua sẽ được thực hiện sau khi kết thúc buổi đánh bạc.
Sau khi đã chuẩn bị xong công cụ thì tất những người chơi thống nhất cách thức chơi như sau: Mỗi ván người chơi đặt cửa với lượng tiền thấp nhất từ 50.000 đồng; ai đánh cao hơn là tùy vào mỗi người chơi. Thể thức đánh (cách tính thắng - thua) như sau: Người xóc cái cầm bát, đĩa trong có 4 quân vị rồi xóc; những người còn lại đặt ở hai cửa chẵn và lẻ. Khi mở bát ra, nếu quân vị ngửa đúng cửa của người nào chọn thì người cầm cái phải trả số tiền mà người đã đặt cửa đó. Ngược lại nếu người chơi chọn sai cửa thì người cầm cái sẽ được lấy số tiền người chơi đã đặt cửa. Đồng thời, các con bạc cũng thống nhất cách thức đánh vị như sau: sử dụng 04 quân bài Tú lơ khơ gồm có quân bài 3 tép (gọi là ba đen), quân bài 3 rô (gọi là ba trắng), quân bài 4 tép (gọi là bốn đen), quân bài 4 rô (gọi là bốn trắng). Bốn quân bài trên do người quản vị sẽ quản lý. Khi người xóc cái xóc quân vị để cho các con bạc tự đặt cược với nhau thì lúc này người làm vị sẽ đặt 4 quân bài vị đã chuẩn bị từ trước rồi xếp ngửa quân bài ra chiếu bạc thành 4 phần để cho những con bạc có nhu cầu đặt cược với bảng vị. Sau khi các con bạc đã đặt cược tiền xong (gồm cả việc người chơi đánh chẵn lẻ với nhau lẫn đánh bảng đánh vị hoặc đánh nguyên với bảng vị) thì người xóc cái hoặc ai có nhu cầu mở sẽ mở bát để xem kết quả làm cơ sở trả tiền cược. Khi mở bát ra sẽ có các dạng gồm: 3 quân đen, 1 quân trắng; 3 quân trắng, 1 quân đen và 4 quân trắng, 4 quân đen. Nếu người đánh bạc đặt cược với bảng vị mà cược ở dạng quân bài 3 đen hoặc 3 trắng nêu trên trong mỗi lần mở bát thì người quản vị sẽ phải trả gấp ba lần số tiền mà họ đã bỏ ra đặt cược. Nếu người đánh bạc đặt cược ở bảng vị mà cược ở dạng quân bài 4 đen hoặc 4 trắng nêu trên trong mỗi lần mở bát thì người quản vị sẽ phải trả gấp mười lần số tiền mà họ đã bỏ ra đặt cược. Nếu người đặt cược không đúng thì người chơi sẽ bị mất số tiền đã đặt cược trong ván chơi đó với người làm bảng vị.
Sau khi thống nhất cách thức chơi các đối tượng bắt đầu ngồi chơi. Còn H2 đi xung quang quan sát và cảnh giới. Khi chơi được khoảng 10 phút, H2 quay lại và yêu cầu những người chơi nộp tiền phế. Đối với nam giới H2 thu 300.000 đồng, còn nữ H2 thu 200.000 đồng, tuy nhiên việc thu tiền này cũng linh hoạt chứ không cố định, ai không có tiền mà xin không nộp thì H2 không thu. Bản thân, H2 không thu tiền trực tiếp và cũng không giám sát việc nộp tiền của từng người, mà sau khi nghe H2 thông báo việc nộp tiền, các con bạc đã tự bỏ tiền ra mặt bạt và K đã thu hộ rồi đưa cho H2. Tuy nhiên, trong số các con bạc có H và D xin H2 không phải nộp tiền phế, H2 đồng ý. Sau khi nhận được tiền phế, H2 tiếp tục đi lại xung quanh để cảnh giới. Một lúc sau có thêm N2 và T4 đến. Do không có tiền đánh bạc nên T4 đã cầm cố chiếc xe máy nhãn hiệu Wave a, BKS19F1-104.83 cho H2 được 5.000.000đồng, tuy nhiên, H2 đã cắt 300.000 đồng tiền lãi và đưa cho T4 4.700.000 đồng. Sau đó, H2 thu của N2 và T4 mỗi người 300.000 đồng tiền phế.
Các đối tượng đánh bạc đến 14h 00 phút cùng ngày bị Đội Cảnh sát hình sự - Công an huyện H phát hiện và bắt quả tang tại chỗ B, H, C, L và T2. Còn lại N, H2, T5, H1, N2, D, N1, Á, T3, K, Ư và T4 đã bỏ chạy. Thu giữ tại chiếu bạc và nơi bắt giữ các đối tượng gồm: 01 chiếc bạt, 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 02 quân bài tú lơ khơ và tiền trên người các đối tượng sử dụng để đánh bạc tự nguyện giao nộp là 25.600.000 đồng như nêu ở trên.
Về số tiền sử dụng đánh bạc, các đối tượng khai nhận: Khi đi đánh bạc N mang theo 30.000.000 đồng. Trước khi đánh bạc N cho B vay 10.000.000 đồng. Đồng thời, Nhất là người ứng trước ra số tiền là 20.000.000 đồng để cùng B, K và T5 làm chung vị. Quá trình đánh bạc K là người quản lý tiền vị. Tỷ lệ ăn chia cụ thể là Nhất 40%; Thắng 20%; Kiên 20% và Bốn 20% và sẽ thanh toán với nhau khi kết thúc buổi đánh bạc. Tuy nhiên, do buổi đánh bạc chưa kết thúc thì bị cơ quan Công an phát hiện nên N đã cầm toàn bộ số tiền vị ở chiếu để bỏ chạy và trốn thoát. Sau đó, Nhất kiểm Đ được 9.000.000đồng và đã giao nộp lại cho cơ quan điều tra; Phạm Công K đem đi 700.000đồng và sử dụng toàn bộ số tiền trên để đánh bạc, Trước khi đánh bạc thì K, B, N và T5 đã thống nhất với nhau làm chung vị, Nhất là người ứng trước ra số tiền là 20.000.000 đồng để cùng làm chung vị. K chơi được vài ván bạc thì K thua hết tiền 700.000 đồng, sau đó K quay sang quản lý tiền vị, K đã nộp tiền phế cho H2 với số tiền là 500.000 đồng cho bốn người cùng chung vị (mỗi người 125.000 đồng). Quá trình đánh bạc K để tiền vị tại chiếu bạc gần vị trí Nhất ngồi. Khi bị cơ quan công an bắt giữ thì K vẫn để tiền ở chiếu bạc để bỏ chạy nên không rõ là thắng thua ra sao; Lê Tiến B khi đi đánh bạc không mang theo tiền. Khi đến địa điểm đánh bạc B đã vay của N 10.000.000đồng và sử dụng toàn bộ số tiền trên để đánh bạc. Quá trình đánh bạc khi H2 thu tiền phế thì lúc này B đang đi vệ sinh nên B không biết và không nộp tiền phế cho H2. Đến khi Công an đến Bốn đã cầm theo tiền định bỏ chạy thì bị bắt giữ ngay tại chiếu bạc, B đã giao nộp 5.700.000 đồng là tiền đánh bạc. Ngoài ra, B cũng là người làm chung vị với N, T5 và K là người chung nhau làm vị, Nhất là người ứng tiền để làm vị, do buổi đánh bạc chưa kết thúc thì bị cơ quan Công an phát hiện nên B không xác định được thắng thua ra sao; Lê Anh T5 đi đánh bạc mang theo 1.200.000 đồng, T5 nộp cho H2 300.000đồng tiền phế, còn lại 900.000 đồng sử dụng vào đánh bạc, khi Công an phát hiện, T5 còn 100.000 đồng và đã vứt lại tiền tại chiếu bạc rồi bỏ chạy và trốn thoát, T5 không thừa nhận việc chung vị cùng với N, B và K; Bùi Tiến C khi đi đánh bạc đem 5.500.000đồng, C đã nộp cho H2 200.000 đồng tiền phế. Còn lại 5.300.000đồng, C sử dụng toàn bộ số tiền trên vào việc đánh bạc, khi Công an phát hiện, C vơ tiền bỏ chạy, sau đó đã giao nộp 5.200.000 đồng; Nguyễn Đình L khi đi đánh bạc đem theo 4.000.000 đồng, Lưu nộp 200.000đồng tiền phế, còn lại 3.800.000đồng dùng vào đánh bạc, khi bị Công an phát hiện, L có 13.800.000 đồng, L đã giao nộp số tiền trên; Nguyễn Thị H khi đi đánh bạc mang theo 500.000 đồng. H xin H2 không phải nộp tiền phế, H2 đã đồng ý, H đã dùng toàn bộ số tiền trên để đánh bạc, khi Công an phát hiện, H còn 900.000 đồng, đã giao nộp; Nguyễn Viết T4 khi đánh bạc thì không mang theo tiền, T4 đã cầm cố chiếc xe máy nhãn hiệu Wave a BKS: 19F1-104.83 cho H2 được 5.000.000đồng, T4 bị H2 cắt lãi 300.000 đồng và nộp phế cho H2 300.000 đồng, còn lại 4.400.000 đồng T4 dùng vào đánh bạc, sau đó thua hết, T4 đứng xem, khi Công an phát hiện T4 đã bỏ chạy; Hà Công Ư khi đi đánh bạc có 2.000.000 đồng, Ư nộp phế cho H2 300.000 đồng, còn lại 1.700.000 đồng Ước dùng vào đánh bạc, khi Công an đến thì lúc này Ư đã thua hết tiền và bỏ chạy; Nguyễn Thị N1 khi đánh bạc đem theo 1.000.000 đồng, N1 nộp cho H2 200.000 đồng phế, còn lại 800.000 đồng N1 dùng vào đánh bạc, sau đó thua hết, khi Công an phát hiện Ngoan đang đứng xem và bỏ chạy; Phạm Thị Hồng Á khi đánh bạc đem theo 900.000đồng, Á nộp cho H2 100.000 đồng phế, còn lại 800.000 đồng dùng vào đánh bạc, sau đó thua hết, khi Công an phát hiện Ánh đang đứng xem và bỏ chạy; Nguyễn Đình D khi đi đánh bạc đem theo 300.000 đồng, D xin không phải nộp tiền phế và H2 đã đồng ý, D đã dùng 300.000 đồng để đánh bạc. Sau đó bị thua hết tiền và ngồi xem, khi Công an đến D bỏ chạy; Lê Văn N2, khi đi đánh bạc đem 4.200.000đồng, N2 đã nộp cho H2 300.000 đồng phế. Còn lại 3.900.000đồng, N2 sử dụng toàn bộ số tiền trên vào việc đánh bạc, khi Công an phát hiện, N2 còn 2000.000 đồng, sau đó đã giao nộp; Lê Duy H1 khi đi đánh bạc đem 800.000 đồng, H1 đã nộp cho H2 200.000 đồng tiền phế, còn lại 600.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc, khi Cơ quan Công an phát hiện, H1 còn 400.000 đồng, H1 cầm tiền bỏ chạy sau đó đã giao nộp; Nguyễn Anh T3 khi đi đánh bạc có 1.100.000 đồng, T3 đã nộp cho H2 300.000 đồng phế, còn lại 800.000 đồng dùng vào đánh bạc, sau đó bị thua hết, đứng xem, khi Công an đến T3 đã bỏ chạy.
Đối với Nguyễn Mạnh H2 sau khi thu tiền phế của người đánh bạc, H2 đã giữ số tiền trên, khi Công an đến H2 đã bỏ chạy, về đếm được 2.900.000 đồng, sau đó H2 đã giao nộp số tiền trên. Đối với Nguyễn Thị T2 được H2 phân công để cảnh giới, H2 hứa trả 200.000 đồng sau khi đánh bạc kết thúc, sau đó bị Công an phát hiện nên T2 chưa nhận được tiền công từ H2.
Căn cứ vào lời khai của các Bị cáo thì số tiền họ đem đi là 56.900.000đồng, số tiền nộp phế cho H2 là 2.900.000 đồng, còn lại 54.000.000 đồng dùng vào đánh bạc, tổng số tiền các Bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 54.000.000đ. Tuy nhiên, ngoài lời tự khai của các Bị cáo thì không có căn cứ nào khác để chứng minh. Cơ quan điều tra thu được số tiền khi bắt quả tang là 25.600.000đồng và số tiền của các Bị cáo N2, H1 và N khai dùng vào đánh bạc và giao nộp lại là 11.400.000đồng. Vì vậy, xác định số tiền các Bị cáo dùng vào việc đánh bạc là số tiền các Bị cáo dùng vào đánh bạc bị thu giữ khi bắt quả tang và số tiền dùng vào việc đánh bạc các Bị cáo tự nguyện giao nộp là 37.000.000 đồng (25.600.000đồng + 11.400.000 đồng). Vì vậy, các Bị cáo đánh bạc phải chịu trách nhiệm hình sự về số tiền đánh bạc là 37.000.000 đồng. Bị cáo H2 phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tổ chức đánh bạc với quy mô trên 10 người, số tiền trên chiếu bạc trên 20.000.000 đồng và tổ chức cầm cố tài sản (Xe máy) cho người tham gia đánh bạc, phân công người canh gác, thu phế 2.900.000 đồng; Bị cáo T2 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức đánh bạc với vai trò là đồng phạm của Bị cáo H2.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2024/HSST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Lê Tiến B
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Tiến B phạm tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Lê Tiến B 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Trừ cho bị cáo thời gian bị tạm giữ, tạm giam là 60 ngày (từ ngày 31/8/2023 đến ngày 29/10/2023). Bị cáo còn phải chấp hành 04 (B) tháng tù.
Ngoài ra Bản án còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo khác, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 26/8/2024, bị cáo Lê Tiến B kháng cáo xin được hưởng hình phạt cải tạo tại địa phương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Tiến B. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm của tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.
Về án phí: Bị cáo Lê Tiến B phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Lê Tiến B trong hạn luật định được xem xét, giải quyết.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 273/2024/QQĐXXPT-HS ngày 11/11/2024 đưa vụ án ra xét xử vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 21/11/2024, bị cáo Lê Tiến B có đơn xin hoãn phiên tòa. Hội đồng xét xử ra Quyết địng hoãn phiên tòa số 856/2024/HSPT-QĐ ngày 21/11/2024 và ấn định mở lại phiên tòa vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 10/12/2024 nhưng bị cáo Lê Tiến B vắng mặt. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự, tòa án đưa vụ án ra xét xử.
- Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, lời khai của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ 09 giờ 00 phút đến 14 giờ 00 phút ngày 31/8/2023, tại bãi đất trống ven đồi cây Kakeo (của gia đình ông Nguyễn Xuân T1), Nguyễn Mạnh H2 đã tổ chức cho 14 đối tượng thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức “Xóc đĩa” gồm: Lê Tiến B, Lê Văn N2, Bùi Tiến C, Nguyễn Viết T4, Nguyễn Thị H, Nguyễn Duy N, Phạm Công K, Hà Công Ư, Lê Anh T5, Nguyễn Đình D, Nguyễn Đình L, Lê Duy H1, Nguyễn Thị N1, Phạm Thị Hồng Á. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc và phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc là 37.000.000 đồng. Quá trình tổ chức cho các đối tượng đánh bạc, Nguyễn Mạnh H2 đã trực tiếp thu phế của các đối tượng đánh bạc với số tiền 2.900.000đồng, nhận cầm cố 01 xe máy cho 01 đối tượng tham gia đánh bạc, đồng thời H2 thuê Nguyễn Thị T2 cảnh giới, canh gác hứa trả công 200.000 đồng khi việc đánh bạc kết thúc, tuy nhiên, các đối tượng đánh bạc chưa kết thúc thì bị Cơ quan CSĐT bắt quả tang nên H2 chưa trả cho T2 số tiền trên.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử hành vi nêu trên của bố các bị cáo Lê Tiến B, Bùi Tiến C, Nguyễn Viết T4, Nguyễn Thị H, Nguyễn Đình L, Nguyễn Duy N, Phạm Công K, Hà Công Ư, Lê Duy H1, Lê Văn N2, Lê Anh T5, Nguyễn Đình D, Nguyễn Thị N1 và Phạm Thị Hồng Á phạm tội “Đánh bạc”. Các bị cáo Nguyễn Mạnh H2, Nguyễn Thị T2 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 và điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
- Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Cấp sơ thẩm đã căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo 06 tháng tù là phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo xuất trình Đơn xin giảm nhẹ hình phạt (có xác nhận của chính quyền địa phương) với lý do hoàn cảnh của bị cáo khó khăn, vợ thường xuyên ốm đau chỉ làm việc nhà, bị cáo là lao động duy nhất và nuôi 03 con nhỏ ăn học. Mặt khác bị cáo có bố đẻ là Lê Văn P, sinh năm 1923 (đã chết) là người có công với cánh mạng từng tham gia kháng chiến chống Pháp được hưởng chế độ mai táng phí và trợ cấp một lần. Vì vậy bị cáo xin được hưởng hình phạt cải tạo tại địa phương. Mặc dù bị cáo có đơn xin giảm hình phạt nhưng do bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội đánh bạc đã được cho cải tạo ngoài xã hội nhưng không lấy đó làm bài học lại tiếp tục phạm tội đánh bạc, chứng tỏ bị cáo không tuân thủ pháp luật. Do vậy không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2024/HSST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ về hình phạt đối với bị cáo.
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là phù hợp nên chấp nhận.
- Về án phí: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Lê Tiến B
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Tiến B phạm tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Lê Tiến B 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Trừ cho bị cáo thời gian bị tạm giữ, tạm giam là 60 ngày (từ ngày 31/8/2023 đến ngày 29/10/2023). Bị cáo còn phải chấp hành 04 (B) tháng tù.
- Về án phí: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Tiến B phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Toàn |
Bản án số 75/2024/HS-PT ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 75/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Tiến B- Đánh bạc
