Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HNGĐ-ST

Ngày 16-9-2024

V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trương Văn Luân
  2. Bà Trần Thị Thủy.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Trung Đức - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 186/2024/TLST-HNGĐ, ngày 01 tháng 8 năm 2024 về việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QĐXX-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1995 (có mặt)

    Nơi ĐKHKTT: Thôn K, xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình.

    Nơi ở hiện nay: Thôn M, xã B, huyện H, tỉnh Thái Bình.

  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Kim H, sinh năm 1995 (có mặt)

    Địa chỉ: Thôn K, xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Kim H kết hôn cùng nhau do đôi bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại trụ sở Uỷ ban nhân dân (viết tắt UBND) xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 11-12-2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H chơi F, Chứng khoán thua lỗ, nợ dẫn đến kinh tế gia đình khó khăn nên vợ chồng hay xảy ra cãi nhau, bất đồng quan điểm. Chị cùng gia đình chồng đã khắc phục lo trả nợ cho anh H nhưng đến tháng 6 năm 2023 anh H lại không dừng lại mà tiếp tục chơi dẫn đến lại vay nợ. Do nhiều lần anh H không sửa đổi nên chị đưa 02 con về nhà bố mẹ đẻ ở xã B để sinh sống từ tháng 11 năm 2023, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

Về nuôi con chung: Chị và anh H có 02 con chung là Nguyễn Kim B, sinh ngày 15-6-2020 và Nguyễn Kim Đ, sinh ngày 22-11-2022, nếu ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ, nhường anh H trực tiếp nuôi dưỡng cháu B, hai bên không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau. Anh H xin trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung chị không nhất trí vì hiện nay anh H kinh tế đang khó khăn, công việc không ổn định; hiện nay chị đang làm công ty có thu nhập ổn định là 8.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Kim H trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị T kết hôn cùng nhau do đôi bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 11-12-2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chơi F, Chứng khoán thua lỗ, nợ dẫn đến kinh tế gia đình khó khăn nên vợ chồng hay xảy ra cãi nhau, vợ chồng lạnh nhạt tình cảm. Mâu thuẫn trầm trọng từ tháng 11 năm 2023, đôi bên không khắc phục được chị T đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay anh đã sửa đổi tu chí làm ăn và xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh đề nghị Tòa án hòa giải vợ chồng đoàn tụ để nuôi dạy con cái. Nếu chị T cương quyết ly hôn thì anh nhất trí.

Về nuôi con chung: Anh và chị T có 02 con chung là Nguyễn Kim B, sinh ngày 15-6-2020 và Nguyễn Kim Đ, sinh ngày 22-11-2022. Nếu ly hôn, anh xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung và không yêu cầu chị T góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định. Các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Kim H; về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Kim Đ, sinh ngày 22-11-2022 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng; Giao con chung Nguyễn Kim B, sinh ngày 15-6-2020 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng; anh H chị T không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau; về chia tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết; về án phí: Chị T phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà nhận định:

  1. Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Kim H, yêu cầu giải quyết về nuôi con chung, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình và quan hệ tranh chấp là "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung".
  2. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T kết hôn với anh Nguyễn Kim H tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 11-12-2019, là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống hòa thuận, do anh H chơi bời, thua lỗ, nợ, kinh tế khó khăn dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm sống, lạnh nhạt tình cảm, đôi bên không khắc phục được đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2023 đến nay. Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng chị T và anh H đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, anh H nhất trí. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị T, xử cho chị T được ly hôn anh H là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
  3. Về nuôi con chung: Chị T và anh H có 02 con chung là Nguyễn Kim B, sinh ngày 15-6-2020 và Nguyễn Kim Đ, sinh ngày 22-11-2022. Xét nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi con của chị T và anh H là chính đáng. Tuy nhiên để đảm bảo điều kiện về mọi mặt cho các con chung cần giao con chung Nguyễn Kim Đ cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Nguyễn Kim B cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào phải góp cấp dưỡng nuôi con cho bên nào là phù hợp với quy định của Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
  4. Về chia tài sản chung: Chị T và anh H đều trình bày vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
  5. Về án phí: Chị T phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  6. Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà về hướng giải quyết vụ án phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37, khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Kim H.
  2. Về nuôi con chung: Xử giao cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Kim Đ, sinh ngày 22-11-2022. Giao cho anh Nguyễn Kim H trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Kim B, sinh ngày 15-6-2020. Chị T và anh H không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau. Chị T và anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về chia tài sản chung: Không giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003835 ngày 01-8-2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình thành tiền án phí (chị T đã nộp đủ).
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Kim H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Hưng Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Hưng Hà;
  • - UBND xã Duyên Hải;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Nguyễn Bích Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 75/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Kim H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger