Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐĂNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20/8/2024

“Về: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Thành Đô
  2. Bà Nguyễn Thị Lê.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thế Vinh – Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

- Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Tâm – Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 32/2024/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 03 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị H, sinh năm 1982

Nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước

- Bị đơn: Anh Thín Cay L, sinh năm 1975

Nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước

(Nguyên đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai tại phiên toà không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 9/01/2024, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Đoàn Thị H trình bày:

Bà và ông Thín Cay L kết hôn với nhau vào năm 2000 có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; việc chung sống, kết hôn là tự nguyện, không ai bị ép buộc, lừa dối. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, chăm lo gia đình; Tuy nhiên, khoảng một năm trở lại đây tình cảm vợ chồng không được hạnh phúc, vợ chồng không yêu thương, chăm sóc lẫn nhau. Cuộc sống hôn nhân thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, mỗi người một quan điểm sống, không thể hòa hợp và duy trì thêm được nữa vì vậy bà xin Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Thín Cay L.

- Về con chung: Bà và ông L có 03 con chung là Thín Huy N, sinh năm 2002; Thín Huy Hồng T, sinh năm 2005 và Thín Huy Thảo T1, sinh năm 2014 hiện đang ở với bà H. Đối với 02 con chung Thín Huy N và Thín Huy Hồng T đã thành niên bà H không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Thín Huy Thảo Trinh bà có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cho đến khi thành niên, và yêu cầu ông Thín Cay L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Tại phiên tòa bà H rút yêu cầu khởi kiện về cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản lây lời khai ngày 05/6/2024 bị đơn ông Thín Cay L trình bày: Ông và bà H là vợ chồng chung sống từ năm 2000, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; Quá trình chung sống hai vợ chồng hạnh phúc, giữa ông và bà H không có mâu thuẫn gì, mà tự bà H không muốn sống chung với ông nữa nên làm đơn ly hôn, trước đây bà H đã yêu cầu ly hôn nhiều lần nhưng ông không đồng ý, đến nay bà H mới tự nộp đơn lên Tòa. Từ năm 2020 bà H tự ý lên Tây Ninh sống cùng với em bà H sau đó ông cùng các con mới gọi về tiếp tục chung sống. Hiện nay bà H yêu cầu giải quyết ly hôn ông không có ý kiến gì, tùy bà H muốn làm gì làm vì ông nhận thấy giữa vợ chồng không có mâu thuẫn gì mà tự bà H không muốn chung sống cùng ông nữa mới xảy ra sự việc như ngày hôm nay.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống ông và bà H có 03 con chung là Thín Huy N, sinh năm 2002; Thín Huy Hồng T, sinh năm 2005 và Thín Huy Thảo T1, sinh năm 2014. Hiện các con đã lớn tùy các cháu muốn sống cùng ai thì người đó có nghĩa vụ nuôi dưỡng, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến các con chung của ông L bà H:

  • Anh Thín H trình bày: Xác nhận bà Đoàn Thị H và ông Thín Cay L là cha mẹ ruột của anh; hiện nay cha, mẹ anh đang được Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước giải quyết vụ, việc ly hôn, anh đã 18 tuổi; anh không có ý kiến, yêu cầu gì đối với cha, mẹ anh.
  • Chị Thín Huy Hồng T2 trình bày: Xác nhận bà Đoàn Thị H và ông Thín Cay L là cha mẹ ruột của bà; hiện nay cha, mẹ chị đang được Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước giải quyết vụ, việc ly hôn, chị đã 18 tuổi; chị không có ý kiến, yêu cầu gì đối với cha, mẹ chị.
  • Em Thín Huy Thảo T1 trình bày: Hiện nay con đang học lớp 4 tại Trường Tiểu học N1 tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước, vì ba hay uống rượu, la mắng con nên con muốn được mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc để con được học tập cho đến khi trưởng thành; Ngoài ra, không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trình bày ý kiến, quan điểm về vụ án: Việc Tòa án thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền, đảm bảo thủ tục tố tụng; Về tình cảm, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho bà Đoàn Thị H được ly hôn với ông Thín Cay L; Giao cho bà Đoàn Thị H có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung của ông L và bà H là Thín Huy Thảo T1, sinh ngày 14/9/2014 cho đến khi thành niên, không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con; Các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản, nợ chung nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà H có mặt, bị đơn ông L vắng mặt lần thứ hai tại phiên toà không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đoàn Thị H và ông Thín Cay L tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2000, được Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 27 ngày 18/8/2000; quyển số 02, nên quan hệ hôn nhân giữa bà H với ông L là hôn nhân hợp pháp.

Theo bà H trình bày thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng khoảng một năm trở lại đây tình cảm vợ chồng không được hạnh phúc, không yêu thương và chăm sóc lẫn nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, mỗi người một quan điểm sống, không thể hòa hợp và duy trì thêm được nữa vì vậy xin được ly hôn với ông Thín Cay L; ông L cho rằng vợ chồng hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì; bà H không muốn sống chung nữa nên làm đơn ly hôn; Tuy nhiên, theo ông trình bày thì trước đó bà H đã yêu cầu ly hôn nhiều lần nhưng ông không đồng ý, đến nay bà H mới nộp đơn lên Tòa và từ năm 2020 bà H tự ý đến tỉnh Tây Ninh sống cùng với bà em nhà bà H sau đó ông L cùng các con mới gọi về tiếp tục chung sống; hiện nay bà H yêu cầu giải quyết ly hôn ông không có ý kiến gì, tùy bà H muốn làm gì thì làm vì nhận thấy giữa vợ chồng không có mâu thuẫn gì mà tự bà H không muốn chung sống cùng nữa mới xảy ra sự việc như ngày hôm nay.

Xét thấy, trong quá trình sống chung bà H nhiều lần yêu cầu được ly hôn với ông L nhưng ông L không đồng ý cũng như việc bà H tự ý bỏ đi nơi khác sống với người em và đến nay bà H vẫn cương quyết được ly hôn với ông L thể hiện quan hệ hôn nhân giữa bà H với ông L đã phát sinh mâu thuẫn trong nhiều năm và cả hai đều không có giải pháp nào để giải quyết dẫn đến việc bà H yêu cầu được ly hôn với ông L; Qúa trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập các đương sự để tham gia hòa giải nhưng ông L và bà H đều không đến tham gia, ông L bà H cũng không tham gia phiên tòa sơ thẩm. Như vậy, thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông L là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; cả hai không có nguyện vọng đoàn tụ gia đình nên yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông L là có cơ sở cần được chấp nhận.

- Về con chung: Bà H và ông L có 03 con chung là Thín Huy N sinh năm 2002, Thín Huy Hồng T2 sinh năm 2005 và Thín Huy Thảo T1 sinh năm 2014 hiện đang ở với bà H. Đối với 02 con chung Thín Huy N và Thín Huy Hồng T2 đã thành niên các bên không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập; Đối với con chung Thín Huy T, bà H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung sau ly hôn; ông L trình bày các con đã lớn nên muốn sống với ai thì tùy; cháu T1 có nguyện vọng được mẹ là bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Vì vậy, cần giao con chung Thín Huy Thảo Trinh cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Tại đơn khởi kiện bà H yêu cầu ông L có nghĩa vụ cấp dưỡng cho bà nuôi con chung Thín Huy Thảo Trinh mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung thành niên. Tại phiên tòa bà H rút yêu cầu khởi kiện về cấp dưỡng nuôi con nên cần đình chỉ yêu cầu này của bà H đối với ông L; Đối với 02 con chung là Thín H và Thín Huy Hồng T2 đã thành niên, không có ai yêu cầu giải quyết nghĩa vụ nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Quan điểm giải quyết của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81, Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Khoản 4 Điều 147, các Điều 161, 218, 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ vào Nghị quyết số 326/ 2016/ UBTVQH16 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đoàn Thị H đối với bị đơn Thín C; xử cho bà Đoàn Thị H được ly hôn với ông Thín Cay L.

2. Về con chung: Giao cho bà Đoàn Thị H có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung của ông L và bà H là Thín Huy Thảo T1, sinh ngày 14/9/2014 cho đến khi thành niên, không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở; đồng thời có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

Người không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom, cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Bà Đoàn Thị H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước là 300.000đ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009075 ngày 20/03/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Bù Đăng;
  • - CCTHADS huyện Bù Đăng;
  • - UBND xã Thống Nhất;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS.

(Đã ký)

T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 75/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án hôn nhân và gia đình về mâu thuẫn gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger