|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 75/2024/HNGĐ-ST Ngày: 12/7/2024 “V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Minh Thư
Các hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng
Ông Nguyễn Thái Linh
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quyết - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 36/2024/TLST - HNGĐ, ngày 26/02/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST - HNGĐ, ngày 21/6/2024 và quyết định hoãn phiên toà số 32/2024/QĐ-ST, ngày 05/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1989
HKTT: Thôn Y, xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
- Bị đơn: Anh Trần Hữu H, sinh năm 1988
HKTT: Thôn Y, xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, hiện lao động tại Đài Loan, vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án có nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Trần Hữu H đăng ký kết hôn ngày 12/01/2015 tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Việc kết hôn có tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc.
Theo chị Trần Thị T trình bày: Chị T với anh Trần Hữu H sau một thời gian ngắn quen biết và tìm hiểu đã đi đến quyết định đăng ký kết hôn trên cơ sở tình yêu và tự nguyện. Sau khi kết hôn được hơn một năm thì đầu năm 2016 anh Trần Hữu H đi Đài Loan làm việc. Trong thời gian anh H đi làm ở Đài Loan thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau bởi những lý do nhỏ nhặt trong cuộc sống. Bản thân chồng đi xa, chị T ở nhà một mình tại nhà nội. Đến năm 2019 anh H có về thăm chị, nhưng do vợ chồng lấy nhau hơn một năm thì chồng đi nước ngoài, sau hơn 3 năm gặp lại tình cảm vợ chồng không còn mặn nồng như trước. Sau đó anh H quay trở lại Đài Loan làm việc. Từ đó vợ chồng càng ít liên lạc với nhau hơn, hai người ngày càng quan tâm cho nhau ít hơn. Bản thân chị hiện tại không còn tình cảm với chồng nữa. Hầu như vợ chồng không thể nói chuyện với nhau. Nếu mỗi lần hai người liên lạc qua điện thoại là cãi nhau và không có tiếng nói chung. Như vậy, hai vợ chồng mặc dù lấy nhau lâu rồi nhưng tình trạng hai người không sống chung với nhau khoảng 8 năm nếu có gặp nhau thì thời gian rất ngắn ngủi. Hiện nay chị T đã hết tình cảm với chồng, bản thân chị T muốn kết thúc mối quan hệ giữa hai vợ chồng, mâu thuẫn kéo dài, thực tế hầu như không chung sống với nhau thời gian dài. Chị T cho rằng quan hệ vợ chồng đang ở tình trạng trầm trọng, trong cuộc hôn nhân này mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm hai bên không có, Chị T không còn quan tâm chồng, anh H cũng không quan tâm tới vợ, việc ai người đó làm, không còn trách nhiệm và tình cảm vợ chồng nên chị T làm đơn này đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Hữu H.
Tại biên bản làm việc với bà Trần Thị T1 là mẹ anh Trần Hữu H, bà T1 cho biết là anh H đã biết việc chị T làm đơn ly hôn anh và Tòa án tỉnh Hà Tĩnh đang thụ lý, giải quyết. Anh H cho bà T1 biết chị T muốn giải quyết thế nào thì tùy chị T. Hiện tại anh H đang lao động tại Đài Loan.
- Về con chung: Vợ chồng có 1 con chung tên là Trần Hoài A, sinh ngày 28/7/2015 (đã chết).
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; đoạn 2 điểm b tiểu mục 2.1, mục 2 phần II Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; Nghị Quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị T, cho chị T được ly hôn với anh Trần Hữu H; về con chung: Con đã chết không xem xét; về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; về án phí buộc chị T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tại công văn số 4686/QLXNC-P3, ngày 07/3/2024 của Cục Q Bộ C, về cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của anh Trần Hữu H nhiều lần và lần gần nhất ngày 06/9/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Theo thông tin người nhà anh H cho biết hiện tại anh H đang lao động tại Đài Loan. Tại thời điểm thụ lý vụ án, anh H đang ở nước ngoài, do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Theo Công văn số 253/TANDTC-PC, ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ và Nghị Quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã tiến hành xác minh quan hệ hôn nhân, địa chỉ của anh Trần Hữu H qua bà Trần Thị T1 là mẹ của anh H. Bà T1 cho biết hiện tại anh H lao động tại Đài Loan, anh H và gia đình thường xuyên liên lạc với nhau còn địa chỉ cụ thể bà không biết, bà T1 đã thông báo việc Tòa án nhân dân tỉnh gửi thông báo thụ lý vụ án cho anh H nhưng anh H không cung cấp địa chỉ hiện tại của anh H tại nước ngoài. Tòa án gửi công văn đề nghị ban Đ đăng thông tin cho anh H. Đ đã đăng thông tin cho anh H trong 3 ngày liên tiếp từ ngày 13,14,15/5/2024 nhưng anh H không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Chị T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do đó, Toà án xét xử vắng mặt anh H, chị T theo quy định tại Điều 238, 477 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Trần Hữu H đăng ký kết hôn vào ngày 12/01/2015 tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Việc kết hôn tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, tuân thủ quy định Luật hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Theo trình bày của chị T hiện vợ chồng mâu thuẫn, không còn tình cảm, không quan tâm lẫn nhau nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Theo thông tin mẹ anh H cung cấp thì anh H đã biết việc chị T làm đơn ly hôn anh. Anh H cho bà T1 biết chị T muốn giải quyết thế nào thì tùy chị T. Như vậy, anh H không có ý định níu kéo cuộc hôn nhân này. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chung thủy, chăm sóc, giúp đỡ, yêu thương lẫn nhau. Nhưng, giữa chị T và anh H không còn tình cảm, không còn yêu thương, quan tâm nhau. Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của chị T xử cho chị Trần Thị T được ly hôn với anh Trần Hữu H.
[2.2] Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 1 con chung tên là Trần Hoài A, sinh ngày 28/7/2015 (đã chết ngày 28/01/2023 theo trích lục khai tử số 104 ngày 23/02/2023 của UBND xã Y). Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét vấn đề nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thị T không yêu cầu Toà án giải quyết nên miễn xét.
[2.4] Về án phí, chi phí tố tụng: Chị Trần Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
[3] Về quyền kháng cáo : Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình; Các Điều 28, 37, 227, 273, 464, 469, khoản 2 Điều 479, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T được ly hôn với anh Trần Hữu H.
- Về án phí: Buộc chị Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị T đã nộp theo biên lai số 0000795 ngày 26/02/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
- Về chi phí tố tụng khác: Căn cứ Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự, buộc chị Trần Thị T phải chịu 1.500.000đ tiền lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Chị T đã nộp đủ.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Trần Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được ản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Bị đơn anh Trần Hữu H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
| Bùi Văn Hồng Nguyễn Thái L | Bùi Minh T2 |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Bùi Minh Thư |
Bản án số 75/2024/HNGĐ-ST ngày 12/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 75/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
