Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Đ

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07-10-2024

Về việc “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Hà Giang;
  2. Ông Thi Hữu Giàu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thanh Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 174/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 2000; Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Đặng Minh K1, sinh năm 1997; Hộ khẩu thường trú: Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Hiện đang chấp hành án tại Trại Giam T1; Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 5 năm 2024, các văn bản tiếp theo, nguyên đơn bà Nguyễn Thị K trình bày và yêu cầu:

Bà và ông Đặng Minh K1 cưới nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng ngày 29-10-2018. C sống hạnh phúc đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi vã nhau. Bà và ông K1 đã ly thân từ ngày ông K1 bị bắt tạm giam (ngày 11-02-2019) đến nay.

Về hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Đặng Minh K1;

Về nuôi con chung: Yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Thị Kiều T, sinh ngày 28-8-2019 (đang sống chung bà K), không yêu cầu ông K1 cấp dưỡng nuôi con;

Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 24 tháng 9 năm 2024, bị đơn ông Đặng Minh K1 trình bày thống nhất trình bày của bà Nguyễn Thị K về ngày tháng điều kiện kết hôn, không có tài sản chung và nợ chung. Về mâu thuẫn không có.

Về hôn nhân: Ông đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị Kiều .

Về nuôi con chung: Ông đồng ý để bà K trực tiếp nuôi con chung, ông không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ nhận xét: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được đảm bảo; Người tham gia tố tụng chấp hành, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị ghi nhận sự thống nhất của hai bên đương sự để chấp nhận theo yêu cầu của nguyên đơn.

- Vụ án không tiến hành hòa giải đoàn tụ được do bị đơn là ông Đặng Minh K1 đang chấp hành án phạt tù không thể tham gia hòa giải.

- Ngày 16-7-2024, bà Nguyễn Thị K có đơn xin xét xử vắng mặt;

- Ngày 24-9-2024, ông Đặng Minh K1 có đơn xin xét xử vắng mặt;

- Do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Nguyễn Thị K khởi kiện “Tranh chấp ly hôn” đối với ông Đặng Minh K1; Tòa án nhân dân huyện Đ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Bà K, ông K1 có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

[3] Tại phiên tòa, nguyên đơn không có đơn rút yêu cầu khởi kiện, các đương sự trình bày thống nhất với nhau việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.

[4] Xét về hôn nhân:

[4.1] Bà K và ông K1 chung sống có đăng ký kết hôn ngày 29-10-2018 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Quan hệ hôn nhân giữa bà K và ông K1 là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

[4.2] Xét việc bà K yêu cầu ly hôn và ông K1 đồng ý ly hôn:

Bà K cho rằng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ly thân từ ngày ông K1 bị bắt tạm giam (ngày 11-02-2019) đến nay; Ông K1 cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn, chỉ do ông đang chấp hành án phạt tù. Bà K không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho mâu thuẫn vợ chồng. Tuy nhiên, xét từ khi xảy ra mâu thuẫn và ly thân đến nay, bà K và ông K1 không khắc phục được mâu thuẫn gia đình, bà K và ông K1 mỗi người vẫn tự lo cho bản thân, không quan tâm chăm sóc nhau.

Mâu thuẫn giữa bà K và ông K1 đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc trước khi mở phiên tòa bà K yêu cầu ly hôn và ông K1 đồng ý ly hôn là tự nguyện, phù hợp theo quy định tại điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình nên ghi nhận.

[5] Xét về nuôi con chung:

[5.1] Trước khi mở phiên tòa, bà K yêu cầu và ông K1 thống nhất là bà K được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Thị Kiều T, sinh ngày 28-8-2019 (đang sống chung bà K). Việc bà K yêu cầu và ông K1 trình bày thống nhất là tự nguyện nên ghi nhận là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình.

[5.2] Xét về cấp dưỡng nuôi con: Bà K không yêu cầu ông K1 cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện, phù hợp theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình nên ghi nhận.

[5.3] Ông K1 được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung, bà K và ông K1 được quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp theo quy định tại các Điều 83, 84, 107 và 110 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[6] Về chia tài sản chung: Bà K và ông K1 trình bày không có, nên không đề cập là phù hợp quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình.

[7] Về chia nợ chung: Bà K và ông K1 trình bày không có, nên không đề cập. Nếu xảy ra tranh chấp, các đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo pháp luật tố tụng dân sự là phù hợp quy định tại Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình.

[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ;

[9] Về án phí, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xét thấy: Bà K là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp, bà K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm; Ông K1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, các Điều 147, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 55, 59, 60, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện của đương sự: Bà Nguyễn Thị K và ông Đặng Minh K1 thuận tình ly hôn.
  2. Về nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của đương sự: Bà Nguyễn Thị K được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Thị Kiều T, sinh ngày 28-8-2019 (đang sống chung bà K); Ông Đặng Minh K1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Ông K1 được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung, bà K và ông K1 được quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp theo quy định tại các Điều 83, 84, 107 và 110 của Luật Hôn nhân và gia đình.

  3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (theo Biên lai thu số 0004576 ngày 16-7-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ), bà K đã nộp đủ án phí.
  5. Các đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Đ;
  • - Chi cục THADS huyện Đ;
  • - UBND xã T (để ghi sổ hộ tịch);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hùng Vương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HNGĐ-ST ngày 07/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 75/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị K khởi kiện “Tranh chấp ly hôn” đối với ông Đặng Minh K1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger