|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2024/DSPT
Ngày: 14/6/2024
“V/v: Tranh chấp mở lối đi qua bất
động sản liền kề”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Sơn; Ông Đỗ Thế Bình
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 14/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 103/2024/TLPT-DS ngày 03/4/2024 về “Tranh chấp mở lối đi qua bất động sản liền kề”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2024/DS-ST ngày 26/02/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 101/2024/QĐ-PT ngày 13/5/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1956 (có mặt) và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1958 (vắng mặt); Người đại diện theo ủy quyền của bà V: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1956 (có mặt)
- Bị đơn: Ông Hoàng Văn B, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1959 (đều có mặt);
Cùng địa chỉ: Thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Đình D và ông Nguyễn Thế U – Luật sư, Văn phòng L6; Địa chỉ: Số H N, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (đều có mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1978 (vắng mặt);
- Chị Nguyễn Thị L2, sinh năm 1981(vắng mặt);
- Anh Nguyễn Văn L3, sinh năm 1984 (vắng mặt);
- Anh Nguyễn Văn L4, sinh năm 1986 (vắng mặt);
Người đại diện theo ủy quyền của chị L1, chị L2, anh L3, anh L4: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1956 (có mặt)
- Anh Hoàng Văn M, sinh năm 1989 (vắng mặt);
- Chị Thân Thị H1, sinh năm 1995 (vắng mặt);
Người đại diện theo ủy quyền của anh M, chị H1: Bà Nguyễn Thị H sinh năm 1959 (có mặt);
Cùng địa chỉ: Thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
- Anh Hoàng Văn C, sinh năm 1992. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam H2 – Bộ C2 (vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền của anh C: Ông Hoàng Văn B, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1959; Cùng địa chỉ: Thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (đều có mặt).
Người kháng cáo: Bị đơn là ông Hoàng Văn B và bà Nguyễn Thị H.
Kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau: Nguyên đơn là ông Nguyễn Văn L trình bày: Gia đình ông có thửa đất số 138, tờ bản đồ số 23 tại thôn H, xã N, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh (nay là thị xã Q) có nguồn gốc do bố mẹ ông khi còn sống đã lên san đất để trồng sắn, khi đó cả khu vực này chỉ là đồi hoang, các hộ dân tự lên khai hoang để sử dụng. Giáp thửa đất của gia đình ông về phía Đông là đất của gia đình nhà bà Đinh Thị T (chồng là Nguyễn Đình T1), khi đó đất của gia đình bà T bao gồm cả các thửa đất số 128, 139, 166. Sau này thì gia đình bà T mới bán thửa đất số 139 cho vợ chồng ông Hoàng Văn B, bà Nguyễn Thị H. Ngày đó các hộ dân trong thôn và cả gia đình ông L muốn đi lên đồi để trồng sắn thì đều phải đi nhờ qua đất của gia đình bà T, không có lối đi cụ thể nào. Sau khi ông B, bà H mua lại thửa đất số 139 của gia đình bà T đã tiến hành làm nhà, nhưng nhà ông B vẫn bớt lại một cái rãnh để làm chỗ thoát nước mưa, nằm giữa đất nhà ông B và thửa đất số 167 của nhà ông Nguyễn Quốc C1. Khi đó, gia đình ông L vẫn đi qua cái rãnh này để vào đất, còn không thì phải đi vòng lên đồi theo đường đất qua thửa đất số 129 (của nhà ông Đỗ Đức T2) và thửa đất số 128 (của nhà bà Đinh Thị T). Hiện nay gia đình ông L vẫn đi vào đất theo lối đường đất qua đất nhà ông T2 và đất nhà bà T, vì gia đình ông T2 và bà T vẫn là đất trống chưa xây dựng công trình gì trên đất. Năm 2000 khi địa phương có chủ trương làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) cho các hộ dân thì gia đình ông L đã làm thủ tục để được cấp giấy, đến năm 2004 thì gia đình ông L đã được UBND huyện Q cấp GCNQSDĐ đối với
thửa đất 138, với diện tích tự kê khai khi đó là 387m². Đến khoảng năm 2016, gia đình ông L mới tiến hành xây nhà trên thửa đất số 138. Khi xây nhà thì gia đình ông L phải vận chuyển vật liệu theo lối đường đất qua nhà ông T2 và nhà bà T, không đi qua cái rãnh giữa nhà ông B và nhà ông C1 được, vì rãnh rất nhỏ không đi được. Gia đình ông L hiện nay đang sinh sống tại thửa đất số 180, còn không ai ở trên thửa đất số 138 vì không có lối đi vào, nếu đi vòng theo lối đường đất qua nhà ông T2 và nhà bà T thì không tiện. Đến nay, ông L yêu cầu gia đình ông Hoàng Văn B, bà Nguyễn Thị H phải mở một lối đi từ đường công cộng của thôn qua thửa đất số 139 của gia đình ông B, bà H vào đất nhà ông L, chiều rộng lối đi khoảng 01m kéo dài từ đường công cộng vào đến đất nhà ông L.
Bị đơn là ông Hoàng Văn B, bà Nguyễn Thị H trình bày: Gia đình ông bà có thửa đất số 139, tờ bản đồ số 23, diện tích 477m² tại thôn H, xã N đã được UBND huyện Q cấp GCNQSDĐ ngày 30/01/2007. Nguồn gốc thửa đất này là ông B, bà H mua lại của gia đình bà Đinh Thị T từ năm 1987, khi mua thì trên đất chưa xây dựng gì và cũng không có lối đi vào, nên bà T đã cắt khoảng 02m chiều rộng của thửa số 166 để cho ông B, bà H làm lối đi thì mới có lối vào nhà như hiện nay (trước năm 1987 thì thửa đất số 166 và 167 nằm giáp nhau). Sau khi mua đất thì ông B, bà H đã ra làm nhà và sinh sống ổn định trên thửa đất này từ đó đến nay. Khi ông B, bà H làm nhà thì gia đình ông Nguyễn Quốc C1 đã làm nhà ở và xây tường bao trên thửa đất số 167. Còn thửa đất số 138 của gia đình ông Nguyễn Văn L thì chưa xây dựng gì, chỉ là đất trống để trồng sắn. Khoảng trước năm 2000 ông B, bà H sửa lại nhà và xây công trình phụ phía Nam của thửa đất, giáp đất nhà ông C1, khi đó ông C1 có nói ông B, bà H xây lùi tường lại để làm rãnh thoát nước mưa cho hai nhà, nên ông B, bà H đã xây tường lùi lại cách nhà ông C1 khoảng 30cm. Và hiện nay giữa nhà ông B và nhà ông C1 vẫn còn rãnh thoát nước mưa. Còn gia đình ông L từ trước đến nay không đi qua rãnh nước này mà vẫn đi đường từ trên núi qua thửa đất số 128 để vào đất, chỉ thỉnh thoảng ông L lên thăm vườn thì mới đi nhờ qua rãnh thoát nước của nhà ông B. Cách đây khoảng 10 năm gia đình ông L làm nhà trên thửa đất số 138 thì gia đình ông L vẫn phải tập kết vật liệu qua đường từ trên núi xuống, không đi qua rãnh nước giữa nhà ông B và nhà ông C1. Đến nay gia đình ông L khởi kiện yêu cầu mở lối đi qua đất thì ông B, bà H không đồng ý, vì gia đình ông bà đã xây công trình kiên cố không thể tháo dỡ được. Tháng 01/2023 gia đình ông B đã xây tường bịt kín rãnh nước giữa nhà ông bà và nhà ông C1, nên gia đình ông L không thể đi được qua lối này nữa.
Với nội dung như trên, Bản án sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 26/02/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ căn cứ các Điều 245, 246, 248, 254, 357, 468
Bộ luật Dân sự; Điều 95, 100, 166, 171 Luật Đất đai; Điều 26, 35, 39, 147, 157,165, 186, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị V. Buộc gia đình ông Hoàng Văn B, bà Nguyễn Thị H phải cắt một phần đất diện tích 7,6m² thuộc thửa đất số 139, tờ bản đồ số 23 tại thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh để làm lối đi từ đường công cộng vào thửa đất số 138, tờ bản đồ số 23 tại thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
Trong đó: Phần đất được sử dụng làm lối đi riêng của thửa đất số 138 có diện tích 4,7m², được giới hạn bởi các điểm 1-2-5-6 theo Sơ đồ thửa đất kèm theo bản án này.
Phần đất được sử dụng làm lối đi chung của thửa đất số 138 và 139 có diện tích 2,9m2, được giới hạn bởi các điểm 2-3-4-5 theo Sơ đồ thửa đất kèm theo bản án này.
Ông L, bà V phải trả cho gia đình ông B, bà H 58.268.200 đồng giá trị phần đất dùng làm lối đi; 6.644.000 đồng giá trị công trình xây dựng trên phần đất dùng làm lối đi. Tổng cộng là 64.913.200 đồng.
Gia đình ông B phải tháo dỡ các công trình xây dựng trên phần đất dùng làm lối đi như đã nêu ở trên.
Gia đình ông L và gia đình ông B có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để chỉnh lý lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 07/3/2024, bị đơn ông Hoàng Văn B và bà Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 25/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh kháng nghị một phần bản án sơ thẩm về phần tuyên án phí đối với ông B, bà H và phần tuyên số tiền trả lại cho ông Nguyễn Văn L.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh giữ nguyên Quyết định kháng nghị.
Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Trong phần tranh luận, phía nguyên đơn cho rằng từ trước đến nay chỉ đi duy nhất lối đi này, ngoài ra không đi lối đi nào khác, đề nghị tòa án giữ nguyên bản án TANd thị xã Quế Võ xử, phía bị đơn cho rằng, nhà nguyên đơn có một lối đi khác vòng lên trên phía núi, do vậy đề nghị tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTDS, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh. Sửa bản án dân sự sơ thẩm về phần tuyên án phí đối với ông B và phần tuyên số tiền trả lại cho ông L. Bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Hoàng Văn B, bà Nguyễn Thị H nộp trong hạn luật định là kháng cáo hợp lệ; Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh kháng nghị đúng thời hạn luật định. Do đó, kháng cáo và kháng nghị được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xem xét nội dung kháng cáo của ông Hoàng Văn B và bà Nguyễn Thị H: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu gia đình ông B, bà H phải mở một lối đi từ đường công cộng của thôn qua thửa đất số 139 của gia đình ông B, bà H vào đất nhà ông L vì cho rằng thửa đất của gia đình ông bị vây bọc không có lối đi ra đường công cộng.
Căn cứ Điều 254 Bộ luật dân sự quy định: “1. Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ . ..……”
Như vậy, theo bản đồ địa chính và kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ tại cấp sơ thẩm thì thửa đất số 138 của gia đình ông L được vây bọc bởi các thửa đất số 128, 137, 139, 167 nên không có lối đi. Cụ thể: Phía Bắc giáp nhà bà Đinh Thị T (chủ sử dụng thửa đất số 128 và 166); Phía Tây giáp nhà bà L5 (chủ sử dụng
thửa đất số 137); Phía Đông giáp nhà ông B; Phía Nam giáp nhà ông Nguyễn Quốc C1 (chủ sử dụng thửa đất số 167). Do đó, việc gia đình ông L khởi kiện quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý là phù hợp quy định pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xác minh đối với gia đình ông Nguyễn Quốc C1 (chủ sử dụng thửa đất số 167) và bà Đinh Thị T (chủ thửa đất số 128 và 166) thì trước đây đất của gia đình bà T bao gồm cả thửa đất số 139 và thửa đất số 166 giáp thửa đất số 167 và không có đường giao thông giữa hai nhà. Đến khoảng năm 1987 bà T bán thửa đất số 139 cho ông B, bà H, khi đó gia đình bà T ở trên thửa đất số 166 đã bớt lại khoảng 02m chiều rộng đất để làm lối đi vào đất nhà ông B nên mới có đường giao thông như hiện nay. Khi gia đình ông B làm nhà trên thửa đất số 139 đã thống nhất với gia đình ông C1 xây lùi lại để làm rãnh thoát nước mưa giữa nhà ông B và nhà ông C1, đây không phải là lối đi. Còn gia đình ông L từ trước tới nay vẫn đi vòng lên núi qua thửa đất số 128 để vào thửa đất số 138.
Theo bản đồ đại chính thì giữa thửa đất số 129 và thửa đất số 137 có một lối đi vào thửa đất số 128. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thì hiện nay gia đình bà L5 đã xây nhà và tường bao trên thửa đất số 137, thửa đất số 129 chưa xây dựng gì, còn đường giao thông cũng không rõ cụ thể vì xung quanh chỉ có cây cỏ mọc dại. Tòa án cấp sơ thẩm làm việc với UBND xã N thì “Thửa đất số 129 của gia đình ông Đỗ Đức T2 đã được cấp GCNQSDĐ năm 2004 với diện tích là 808m². Theo “Đơn đăng ký quyền sử dụng đất” năm 2000 của gia đình ông T2 có ghi cạnh phía nam đất nhà ông T2 giáp nhà ông V1 dài 9m, giáp nhà bà L5 dài 21m và không thể hiện đường đi. Tuy nhiên, theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất lập năm 2003 thì thửa đất này chỉ có diện tích là 707m² và theo bản đồ địa chính lập năm 2003 thì giáp phía nam thửa đất số 129 là đường giao thông, tuy nhiên theo hiện trạng thì không có đường giao thông này, vì vị trí thửa đất số 129 và đường giao thông hiện nay chỉ là khu đất trống cây cỏ mọc dại, không có công trình gì xây dựng trên đất, cũng không có đường cụ thể vì từ trước đến nay khu vực này không có người ở, ít người qua lại. Do đó, bản đồ địa chính thể hiện giữa thửa đất số 129 và thửa đất số 137 có đường giao thông là chưa chính xác".
Chủ sử dụng thửa đất số 129 (ông Đỗ Đức T2) cũng cho rằng bản đồ địa chính thể hiện lối đi kéo dài qua đất nhà ông đến thửa đất số 128 là không đúng, không có lối đi nằm giữa thửa đất số 129 và 137 mà phần đất này là đất của gia
đình ông T2. Như vậy thể hiện lối đi này hiện nay là không rõ ràng và cũng không phải là đường giao thông như bản đồ thể hiện. Mặt khác, trên thửa đất số 128 có một ngôi mộ nằm chắn trước lối đi ra đường, còn thửa đất số 137 và 138 thấp hơn bề mặt thửa đất số 129 khoảng 03m. Do đó, không thể mở lối đi từ thửa đất số 138 qua thửa đất số 128 hoặc thửa đất số 137 để ra đường công cộng được.
Như vậy, chỉ có thể mở lối đi từ thửa đất số 138 qua thửa đất số 139 hoặc thửa đất số 167 (nay đã được tách thành các thửa 809, 810, 811). Hiện nay giữa thửa đất số 139 và 167 có một rãnh thoát nước mưa rộng khoảng 0.3m, rãnh nước này thuộc thửa đất số 139 của gia đình ông B đã được cấp GCNQSDĐ. Giáp rãnh nước gia đình ông Nguyễn Quốc C1 đã xây dựng khu công trình phụ kéo dài từ phần đất giáp nhà ông L ra đến đường công cộng, còn gia đình ông B có 01 cái bếp lợp ngói và 01 bể phốt đều xây dựng từ khoảng năm 2000, riêng đối với trụ cổng gia đình ông B mới xây đầu năm 2023 bịt kín rãnh nước khi đang xảy ra tranh chấp với gia đình ông L. Nếu mở lối đi qua thửa đất số 167 thì gia đình ông C1 phải tháo dỡ cả dãy khu công trình phụ, còn nếu mở lối đi qua thửa đất số 139 thì gia đình ông B phải tháo dỡ bếp và bể phốt. Nếu mở lối đi qua thửa đất số 139 sẽ ngắn nhất và thuận tiện, ít gây thiệt hại hơn việc mở lối đi qua thửa đất số 167, bởi lẽ nhà ông B hiện nay đã xây nhà và khu bếp mới ở vị trí khác, và lối đi này cũng là cổng ra vào của nhà ông B, nên sẽ không ảnh hưởng nhiều đến việc sinh hoạt cũng như việc sử dụng đất của các gia đình.
Qua xác minh của Tòa án cấp sơ thẩm đối với các bất động sản liền kế, căn cứ vào hiện trạng thực tế xây dựng các công trình trên đất, xét thấy để thuận tiện, hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản mở lối đi thì việc mở lối đi qua thửa đất số 139 ngắn nhất, thuận tiện và ít gây thiệt hại nhất. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc gia đình ông B, bà H về việc mở lối đi qua thửa đất số 139 của gia đình ông B, bà H như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử là phù hợp, đúng quy định pháp luật.
[3] Xem xét nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh:
Thứ nhất, Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông L, bà V về việc buộc gia đình ông B, bà H phải cắt một phần đất của gia đình ông B để làm lối đi từ đường công cộng vào thửa đất của gia đình ông L. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn là vợ chồng ông B, bà H phải chịu án phí dân sự không có giá ngạch là 300.000 đồng.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà H là người cao tuổi nên được miễn án phí nhưng bản án sơ thẩm tuyên buộc ông B phải chịu 3300.000đ án phí dân sự là không đúng quy định tại điểm 5 khoản 1 Điều 147 BLTTDS, ông B chỉ phải chịu 150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Do vậy cần sửa lại phần tuyên án phí này.
Thứ hai, tại phần quyết định của bản án sơ thẩm chỉ tuyên trả 300.000 đồng cho ông Nguyễn Văn L mà không tuyên trả số tiền 2.550.000đ theo biên lai thu ngày 04/01/2022 là không đúng quy định tại khoản 3, Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bởi lẽ: Theo Bản án số 23/2021/DS-ST ngày 29/9/2021 của TAND huyện Quế Võ (nay là TAND thị xã Quế Võ), ông L, bà V phải chịu 2.850.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận ông L, bà V đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0001090 ngày 15/6/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Võ. Ông L, bà V còn phải nộp 2.550.000 đồng. Bản án số 23 ngày 29/9/2021 của TAND thị xã Quế Võ bị Chánh án TANDTC kháng nghị. Tại bản án số 46/2023/DS-GĐT ngày 28/6/2023 của TAND cấp cao tại Hà Nội tuyên hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 23/2021/DS-ST ngày 29/9/2021 của TAND thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Giao hồ sơ cho TAND thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm đúng quy định.
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên phải trả lại số tiền án phí đã nộp của nguyên đơn, nhưng TAND thị xã Quế Võ chưa xác minh đối với số tiền 2.850.000₫ mà ông L, bà V phải thi hành theo bản án số 23 ngày 29/9/2021 đã thực hiện hay chưa. Sau khi xét xử sơ thẩm, VKSND thị xã Quế Võ đã xác minh tại Chi cục THADS thị xã Q, xác định Chi cục T đã thu số tiền 2.850.000₫ của ông L, bà V theo biên lai thu số 0004742 ngày 15/4/2022 (trong đó từ biên lai thu số 0001090 ngày 15/6/2020 là 300.000đ; từ biên lai thu ngày 04/01/2022 là 2.550.000₫).
Do vậy, cần sửa bản án sơ thẩm về phần tuyên trả cho nguyên đơn tổng số tiền 2.850.000đ của ông L, bà V theo biên lai thu số 0004742 ngày 15/4/2022.
Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nhưng không đưa ra tài liệu, chứng cứ nào mới để chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo.
[4] Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DSST ngày 26/02/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
[5] Về án phí: Do bản án dân sự sơ thẩm của TAND thị xã Quế Võ bị sửa nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Văn B, bà Nguyễn Thị H. Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 03/QĐ-VKS-DS ngày 25/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DSST ngày 26/02/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ về tuyên án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí.
- 3.1. Án phí sơ thẩm:
- - Ông Hoàng Văn B phải chịu 150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Hoàn trả lại ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị V số tiền 2.850.000 đồng theo Biên lai số 004747 ngày 15/4/2022 Chi cục thi hành án thị xã Quế Võ (bao gồm số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0001090 ngày 15/6/2020 và 2.550.000 đồng theo Biên lai thu ngày 04/01/2022 của Chi cục thi hành án thị xã Quế Võ).
- 3.2. Án phí phúc thẩm:
Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phú thẩm. Hoàn trả lại ông Hoàng Văn B và bà Nguyễn Thị H mỗi người 300.000đ tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0001867 và Biên lai thu số 0001868 cùng ngày 07/3/2024 của Chi cục thi hành án thị xã Quế Võ.
- 3.1. Án phí sơ thẩm:
- Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DSST ngày 26/02/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - TAND thị xã Quế Võ; - Chi cục THADS thị xã Quế Võ; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Bình |
Bản án số 75/2024/DSPT ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp mở lối đi qua bất động sản liền kề
- Số bản án: 75/2024/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp mở lối đi qua bất động sản liền kề
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp mở lối đi qua bất động sản liền kề giua Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Là, sinh năm 1956 ; Bị đơn: Ông Hoàng Văn Bình, sinh năm 1969
