TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THUỶ THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 75/2024/DS-ST
Ngày: 27/9/2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Kim Toan
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Vĩnh Hạnh
2. Ông Lý Thanh Bình
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Linh Chi – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: ông Phạm Trương Nhựt Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân quận Bình Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 16/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 641/2024/QĐXX- HNGĐ ngày 10/9/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Chiêm Thị N, sinh năm 1984. Địa chỉ: Hẻm A, nhà T, đường L, khu V, phường B, quận B, thành phố C ơ.
Bị đơn: Ông Phan Huỳnh H, sinh năm 1985. Địa chỉ: số nhà D, khu vực 2, tổ A, Hẻm A, đường L, quận B, thành phố .Nguyên đơn, bị đơn xin xét xử vắng mặt.NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/02/2024 và qúa trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Chiêm Thị N trình bày:
Bà Chiêm Thị N và ông Phan Huỳnh H tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc, nhưng được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên cãi vã. Mặc dù vợ chồng đã nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng không thể giải quyết được mâu thuẫn. Nhận thấy, đời sống chung vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó bà N xin ly hôn với với ông H. Về con chung: Ông bà có 03 con chung là cháu Phan Khả M (nữ) sinh ngày 29/10/2016, Cháu Phan Gia K (nam) sinh ngày 29/10/2012 và Phan Gia B (nam) sinh ngày 23/07/2014. Cháu K và cháu B được sinh ra trước khi ông bà đăng ký kết hôn, tuy nhiên trong giấy khai sinh có tên cha Phan Huỳnh H và mẹ Chiêm Thị N nên được công nhận là con chung của ông bà. Sau khi ly hôn, bà N yêu cầu được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K, M đến tuổi trưởng thành. Cháu B đang được ông H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng nên bà đồng ý giao cháu B cho ông H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Bà không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con và bà cũng không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà N có đơn xin xét xử vắng mặt do bà đi làm xa, không thường xuyên về nhà được nên không tham dự phiên tòa được.
Đối với bị đơn ông Phan Huỳnh H, tại các buổi công khai chứng cứ và hòa giải, mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng ông H vẫn vắng mặt nên không thể hòa giải được. Tại bản tự khai ngày 12/09/2024, ông H trình bày ý kiến đồng ý ly hôn với bà Chiêm Thị N. Về con chung: thống nhất có 03 con chung, đồng ý giao 02 con chung là cháu Phan Gia K và Phan Khả M cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, cháu Phan Gia B hiện nay đang sống cùng với ông H nên ông có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu B. Ông H không đồng ý yêu cầu cấp dưỡng đối với 02 con chung của bà N và cũng không yêu cầu bà N cấp dưỡng đối với cháu B. Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông H có đơn xin xét xử vắng mặt do bận công việc nên không thể tham dự phiên tòa được.
Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử công khai và xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Chiêm Thị N được ly hôn với ông Phan Huỳnh H. Giao con chung là cháu Phan Gia K, sinh năm 2012 và cháu Phan Khả M, sinh năm 2016 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Phan Gia B, sinh năm 2014 cho ông Phan Huỳnh H trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sợ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp, nguyên đơn có yêu cầu xin ly hôn và giải quyết nuôi con nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: Tranh chấp ly hôn và nuôi con. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại quận B, thành phố Cần Thơ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy.
Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt đương sự theo Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung khởi kiện: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn đúng quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Nguyên đơn trình bày lý do xin ly hôn là do quá trình chung sống giữa vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng không thể giải quyết, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy giữa nguyên đơn và bị đơn không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Về con chung: Ông bà có 03 con chung là cháu Phan Khả M (nữ) sinh ngày 29/10/2016, Cháu Phan Gia K (nam) sinh ngày 29/10/2012 và Phan Gia B (nam) sinh ngày 23/07/2014. Sau khi ly hôn, bà N yêu cầu được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K và cháu M đến tuổi trưởng thành. Cháu B đang được ông H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng nên bà đồng ý giao cháu B cho ông H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Bà không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con và bà cũng không cấp dưỡng nuôi con. Ông Hiệp đồng Ý giao 02 con chung là cháu M và cháu K cho bà N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu B, không đồng ý cấp dưỡng nuôi 02 con chung và cũng không cấp dưỡng nuôi cháu B. Nhận thấy, nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện cuả các đương sự nên chấp thuận.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
- - Điều 28, 35, 39, 147, 227, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Chiêm Thị N được ly hôn với ông Phan Huỳnh H.
- Về con chung: Giao 02 cháu Phan Khả M (nữ) sinh ngày 29/10/2016, Cháu Phan Gia K (nam) sinh ngày 29/10/2012 cho bà Chiêm Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao cháu Phan Gia B (nam) sinh ngày 23/07/2014 cho ông Phan Huỳnh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bà N và ông H, không ai được ngăn cản.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Chiêm Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, chuyển tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp theo Biên lai thu số 0002519 ngày 07/03/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ thành án phí. Bà N đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày nguyên đơn và bị đơn nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú, nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Kim Toan |
Bản án số 75/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 75/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Bà Chiêm Thị N, sinh năm 1984. Địa chỉ: Hẻm A, nhà T, đường L, khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ. Bị đơn: Ông Phan Huỳnh H, sinh năm 1985. Địa chỉ: số nhà D, khu vực 2, tổ A, Hẻm A, đường L, quận B, TP .Cần Thơ
