|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 75/2024/DS-ST Ngày 16 – 9 – 2024 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Âu Cần Đông
- Bà Trịnh Thị Trúc Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Nhiệm – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Nghiên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 03/2023/DSST, ngày 02 tháng 02 năm 2023, về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 193 /2024/QĐXXST-DS, ngày 27/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Phan Thời T, sinh năm: 1966 (có mặt).
- Bị đơn: Bà Phan Thị G, sinh năm: 1960 (chết)
- Ông Nguyễn Văn M, sinh năm: 1966 (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị Mộng T1, sinh năm: 1988 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1993 (vắng mặt).
- Bà Danh Thị Hồng N, sinh năm: 1984 (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Mỹ T2, sinh năm: 1990 (vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Danh Chí X, sinh năm 1959 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khu V, phường B, thị xã L, Hậu Giang.
Địa chỉ: Khu V, phường B, thị xã L, Hậu Giang.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Phan Thị G gồm:
Cùng địa chỉ: Khu V, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ: ấp L, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T1, ông H, bà N, bà T2: ông Nguyễn Văn M (là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn trong cùng vụ án).
Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn ông Phan Thời T trình bày:
Tôi là em ruột bà Phan Thị G, cha tôi tên Phan Thời N1 (đã chết năm 1993) và mẹ là bà Phạm Thị C (đã chết năm 2003). Nguồn gốc phần đất tranh chấp với bà G là của mẹ tôi là bà Phạm Thị C cho tôi vào khoảng năm 1983-1984, tôi sử dụng đến năm 1995 thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến năm 2018 thì tôi được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới. Phần dất ruộng của tôi giáp với phần đất của bà G, ranh giới giữa hai bên là một con mương, con mương là có sẵn từ đời cha mẹ để lại không biết ai đào, tôi và bà G sử dụng từ khoảng năm 1984 đến năm 2018 không phát sinh tranh chấp. Đến năm 2019, thì bà G cho rằng toàn bộ con mương là của bà nên phát sinh tranh chấp. Nay bà Phan Thị G đã chết nên tôi yêu cầu Tòa án buộc hàng thừa kế của bà Phan Thị G, gồm ông Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị Mộng T1, Nguyễn Văn H, Danh Thị Hồng N, Nguyễn Thị Mỹ T2 trả lại phần đất cho tôi theo diện tích đo đạc thực tế là 424,2m². Đối với công trình kiến trúc và cây trồng do bà G xây dựng và trồng trên phần đất tranh chấp tôi yêu cầu các hàng thừa kế của bà G tự di dời, tôi không đồng ý bồi thường.
Bị đơn Phan Thị G (chết) có người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng: ông Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị Mộng T1, Nguyễn Văn H, Danh Thị Hồng N, Nguyễn Thị Mỹ T2 do ông Nguyễn Văn M là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Tôi là chồng của bà Phan Thị G, tôi và bà G có 03 người con chung gồm Nguyễn Thị Mộng T1, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị Mỹ T2. Ngoài ra bà Phan Thị G còn có 01 người con riêng là bà Danh Thị Hồng N. Về nguồn gốc phần đất bà G sử dụng là của cha mẹ ruột là ông Phan Thời N1 (đã chết năm 1993) và mẹ là bà Phạm Thị C (đã chết năm 2003) tặng cho vào năm 1992, việc cho đất không có làm giấy tờ gì. Phần đất này bà G sử dụng từ năm 1992, nhưng chưa được tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2006 sau khi ông N1, bà C mất thì ngày 23/4/2006 anh chị em trong gia đình họp lại thống nhất giao phần đất vườn, thổ cư tại thửa 2043 và 1551 cho bà G được quyền sử dụng, giao phần đất ruộng 2.000m² cho ông Phan Thời T sử dụng. Đến ngày 09/01/2018, bà G được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất vườn của bà G giáp với phần đất ruộng của ông T là một con mương, con mương là do ông N1 đào để lại từ trước đến nay.
Năm 2018, bà G có sang lắp mặt bằng và sang lắp luôn phần con mương giáp ông T. Năm 2020, thì ông T cho rằng bà G lấn ranh nên có nộp đơn ra tổ hòa giải của khu vực. Tổ hòa giải đã hòa giải thành có cặm ranh hiện nay vẫn còn và ông T thống nhất với kết quả hòa giải không tranh chấp. Sau khi tổ hòa giải cặm ranh thì gia đình tôi sử dụng đúng ranh giới cho đến nay. Ông T cho rằng bà G lấn ranh và yêu cầu trả phần đất diện tích theo đo đạc thực tế là 424,2m² tôi không đồng ý, yêu cầu ổn định sử dụng. Đối với phần công trình là 01 phần hàng rào do ông Phan Thời T xây dựng trên phần đất tranh chấp, tôi yêu cầu ông T tháo dỡ, di dời trả lại hiện trạng đất cho tôi.
Tại phiên tòa ngày 19 tháng 7 năm 2024, ông Nguyễn Văn M là người đại diện theo ủy quyền của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Phan Thị G trình bày ý kiến: ông M rút lại một phần yêu cầu phản tố và đề nghị Tòa án tiến hành đo đạc lại phần đất tranh chấp. Tại phiên tòa ngày 16 tháng 9 năm 2024, ông M yêu cầu Hội đồng xét xử công nhận quyền sử dụng đất và giao cho các đồng thừa kế của bà Phan Thị G sử dụng phần đất tranh chấp có vị trí số (I), có diện tích 233,2m², trong đó phần đất (Ia) có diện tích 188,4m² và phần đất (Ib) có diện tích 44,8m² theo mảnh trích đo địa chính số 88/CHK ngày 13/8/2024 của Công ty cổ phần Đ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Danh Chí X trình bày:
Năm 1981, tôi và bà G có tổ chức lễ cưới, chung sống như vợ chồng, không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống giữa tôi và bà G có 01 con chung tên Danh Thị Hồng N, sinh năm 1984. Năm 1985, tôi đi bộ đội bên Campuchia, do tham gia chiến đấu xa cách một thời gian dài, tôi bị thương giữa tôi và bà G không còn tình cảm, nhưng chúng tôi cũng không có ra tòa để ly hôn. Nay bà G đã chết, đối với phần tài sản bà G đứng tên chủ sử dụng tôi không biết. Vì lúc tôi và bà G chung sống với nhau không có tài sản chung. Nên tôi không có ý kiến và yêu cầu gì đối với phần tài sản bà giữ để lại, đối với tranh chấp giữa ông Phan Thời T và bà G tôi cũng không có ý kiến yêu cầu gì. Tôi yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt tôi trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Thời T. Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện, một phần yêu cầu phản tố của nguyên đơn và bị đơn về việc tranh chấp đối với phần đất có vị trí số (I), diện tích 424,2m² theo mảnh trích đo địa chính số 07/SHC ngày 24/01/2024 của công ty TNHH Đ1.
Đề nghị: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Giao phần đất tranh chấp có vị trí (I), có diện tích 233,2m² trong đó phần (I) có diện tích 188,4m² và phần (Ib) có diện tích 44,8m² theo Mảnh trích đo địa chính số 88/CHK ngày 13/8/2024 của Công ty cổ phần Đ và toàn bộ công trình, vật kiến trúc, cây trồng gắn liền trên đất cho bị đơn sử dụng.
Về án phí, chi phí tố tụng, nguyên đơn ông Phan Thời T phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Nguyên đơn ông Phan Thời T khởi kiện bị đơn bà Phan Thị G, tranh chấp quyền sử dụng đất nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp đất đai. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ theo quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 203 Luật đất đai 2013.
[2] Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Danh Chí X và đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Danh Chí X.
[3] Về nội dung giải quyết vụ án: Tại phiên tòa, nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút lại một phần yêu cầu phản tố về việc tranh chấp đối với phần đất có vị trí số (I) diện tích 424,2m² theo mảnh trích đo địa chính số 07/SHC ngày 24/01/2024 của công ty TNHH Đ1. Nguyên đơn, bị đơn xác định chỉ yêu cầu giải quyết tranh chấp đối với phần đất có vị trí (I) có diện tích 233,2m² theo Mảnh trích đo địa chính số 88/CHK ngày 13/8/2024 của Công ty cổ phần Đ. Căn cứ Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, một phần yêu cầu phản tố của bị đơn.
[4] Xét về nguồn gốc phần đất tranh chấp: Nguyên đơn, bị đơn thừa nhận do ông Phan Thời N1 (đã chết năm 1993) và bà Phạm Thị C (đã chết năm 2003) là cha mẹ của ông T và bà G tạo lập. Ông T và bà G được cha mẹ tặng cho quyền sử dụng đất trước khi chết. Ông T và bà G đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cụ thể ông Phan Thời T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS01162 ngày 16/3/2018 đối với thửa đất 1556, tờ bản đồ số 7, diện tích sử dụng là 2.710m², đất chuyên trồng lúa nước, địa chỉ thửa đất tại khu vực B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. Ngày 10/01/2019, ông Nguyễn Duy L nhận chuyển nhượng diện tích 892,1m² số thửa 4174, diện tích sử dụng còn lại của ông Phan Thời T là 1.817,9m², số thửa 4193. Đến ngày 21/3/2019, ông T tiếp tục chuyển nhượng cho ông Trần Thanh T3 diện tích 567,9m², số thửa 4208, diện tích còn lại trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phan Thời T là 1.250m², số thửa 4218.
[5] Đối chiếu diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Phan Thời T được cấp với diện tích phần đất đo đạc thực tế; phần đất ông T sử dụng ổn định có vị số (II), diện tích 1.497,8m², so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp ông T đã sử dụng dư 247,8m².
[6] Đối với bà Phan Thị G, được nhận thừa kế theo pháp luật theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00129 ngày 22/8/1995 cấp cho bà Phạm Thị C, chỉnh lý biến động sang tên bà Phan Thị G ngày ngày 02/01/2007, đối với thửa đất 1551, diện tích 700m², loại đất LNK, thửa đất 2403, diện tích 300m². Trước khi nhận thừa kế, bà Phạm Thị C đã chuyển nhượng một phần thửa đất 1551 cho Phạm Minh Ú, diện tích còn lại là 352m². Đến ngày 09/01/2018, bà Phan Thị G được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS01057 đối với thửa đất 1551 diện tích 241,3 m² loại đất CLN. Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS01058, thửa đất 2403, diện tích 300 m², loại đất ở tại đô thị. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS01161 đối với thửa đất 1555, diện tích 3.598m², loại đất trồng lúa nước. Như vậy, tổng diện tích bà Phan Thị G được cấp giấy chứng nhận là 4.139.3m².
[7] Đối chiếu với diện tích đất đo đạc thực tế thực tế các đồng thừa kế của bà Phan Thị G sử dụng gồm phần đất có vị trí số (III) có tổng diện tích 1.038,5m² Trong đó: Diện tích tại thửa 2403 là 300m², diện tích tại thửa 1551 là 738,5m², phần đất có vị trí số (IV) có diện tích 3.436,7m². Như vậy, so với diện tích đất được cấp cho thì bà Phan Thị G, bà G sử dụng còn thiếu đấ ở thửa 1555 là 161,3m², nếu cộng phần đất tranh chấp ở vị trí (I) có diện tích 44,8m² thì diện tích đất tại thửa 1555 là 3481,5m², vẫn còn thiếu 116,5m². Tại thửa 1551 bà Phan Thị G được cấp giấy có diện tích 241,3m² nhưng thực tế sử dụng là 738,5m² là có dư 497,2m².
[8] Căn cứ biên bản xem xét thẩm định tại chổ ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thể hiện: Trên phần đất tranh chấp (I) có phần công trình xây dựng: 01 phần hàng rào diện tích 1,7m x 2,3 m kết cấu trụ đá bê tông cốt thép xây tường 10; về phần cây trồng do bà Phan Thị G trồng: Gồm dừa 06 cây loại A, 02 cây loại B, 03 cây loại C, M1 vàng cao dưới 1m 04 cây; chuối 11 cây loại A, 21 cây loại B, 17 cây loại C, cây ăn trái 02 cây loại B, 01 cây loại C, ổi 02 cây loại B. Phần cây trồng do nguyên đơn ông Phan T4 tạo trồng gồm 03 cây dừa loại C, đã trồng trong thời gian giải quyết tranh chấp năm 2024, ông T xác định trong trường hợp Toà án giao phần đất tranh chấp cho bị đơn sử dụng thì ông T tự di dời không yêu cầu bồi thường. Tại phiên toà, nguyên đơn, bị đơn xác định 03 cây dừa loại C ông T trồng trên phần đất ông T đang sử dụng ổng định. Nguyên đơn, xác định toàn bộ phần công trình, vật kiến trúc và cây trồng gắn liền trên phần đất tranh chấp là của bị đơn.
[9] Tại biên bản xác minh ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thể hiện: “Ngày 26/6/2020, Tổ hòa giải khu vực B có tiến hành hòa giải cho bà Phan Thị G và ông Phan Thời T, đối với phần đất tranh chấp có vị trí tranh chấp như hiện nay. Sau khi tổ hòa giải động viên, bà G và ông T đã thống nhất thoả thuận các vị trí giáp ranh, các trụ đá thống nhất ranh vẫn còn như vị trí hiện trạng ban đầu như thỏa thuận. Khi cặm trụ đá có mặt ông M, bà G và ông T. Sau khi cặm ranh xong, Tổ hòa giải tiến hành lập biên bản Hòa giải thành, bà G và ông T đều thống nhất ký tên. Phần tường rào trên đất tranh chấp do ông M xây dựng, khi xây dựng trước năm 2020, khi ông M, bà G xây dựng không có ai tranh chấp, ngăn cản”.
[10] Xét thấy, ông T bà G đều sử dụng đất dư so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Ông Phan Thời T chỉ sử dụng đất từ phần hàng rào đã xây dựng như hiện tại, một phần con mương theo trụ đá mà các bên đã thỏa thuận. Thực tế phần đất tranh chấp tại vị trí (I) bà G đã trồng cây, xây tường rào và sử dụng ổn định nên có cơ sở giao phần đất số (I) cho các đồng thừa kế của bà G tiếp tục sử dụng. Đối với phần đất tranh chấp có vị trí (11) có diện tích 44,8m², là phần tiếp giáo với thửa 1555 là của bà Phan Thị G; bà G được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 3.598m², thực tế đo đạc phần đất có vị trí số (IV) có diện tích 3.436,7m² nếu cộng phần đất (Ib) có diện tích 44,8m² vẫn còn thiếu 116,5m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp.
[11] Qua trao đổi về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho ông Phan Thời T, bà Phan Thị G, sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H xác định đúng trình tự, thủ tục. Qua trao đổi về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, loại đất tại địa phương, Ủy ban nhân dân thị xã L, tỉnh Hậu Giang xác định phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại địa phương.
[12] Từ những nhận định nêu trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Công nhận quyền sử dụng phần đất tranh chấp cho bị đơn. Giao cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn gồm ông Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị Mộng T1, Nguyễn Văn H, Danh Thị Hồng N, Nguyễn Thị Mỹ T2 sử dụng phần đất có vị trí số (I), có diện tích 233,2m². Trong đó phần (I) có diện tích 188,4m² và phần (Ib) có diện tích 44,8m² theo Mảnh trích đo địa chính số 88/CHK ngày 13/8/2024 của Công ty cổ phần Đ. Về công trình, vật kiến trúc cây trồng trên đất do bà Phan Thị G xây dựng và trồng nên giao cho các đồng thừa kế của bà G sử dụng.
[13] Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 157, 165 Bộ luật tố tụng dân sự nguyên đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chổ, thẩm định giá tài sản với số tiền 10.900.000 đồng. Trong đó: Nguyên đơn ông Phan Thời T đã nộp tạm ứng 8.900.000 đồng, đại diện những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nguyễn Văn M tự nộp tạm ứng số tiền 2.000.000đồng. Tại phiên toà, ông Nguyễn Văn M tự nguyện chịu chi phí tố tụng với số tiền 2.000.000đồng (các đương sự đã nộp xong).
[14] Về án phí: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch với số tiền là: 300.000đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ các Điều 5, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 91, 147, 157, 165, 217, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 167, 168, 203 Luật đất đai 2003; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[2] Tuyên xử: Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, một phần yêu cầu phản tố của bị đơn về việc tranh chấp buộc tháo dỡ di dời công trình vật kiến trúc cây trồng trả lại phần đất tranh chấp có vị trí số (I), diện tích 424,2m² theo mảnh trích đo địa chính số 07/SHC ngày 24/01/2024 của công ty TNHH Đ1.
[3] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc giao cho nguyên đơn sử dụng phần đất tranh chấp có vị trí (I) có diện tích 233,2m² trong đó phần (I) có diện tích 188,4m² và phần (Ib) có diện tích 44,8m² theo Mảnh trích đo địa chính số 88/CHK ngày 13/8/2024 của Công ty cổ phần Đ.
[4] Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Giao cho người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Phan Thị G gồm ông Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị Mộng T1, Nguyễn Văn H, Danh Thị Hồng N, Nguyễn Thị Mỹ T2 được quyền sử dụng phần đất tranh chấp có vị trí (I), có diện tích 233,2m². Trong đó phần đất vó vị trí (I) có diện tích 188,4m² và phần đất có vị trí (Ib), có diện tích 44,8m² theo Mảnh trích đo địa chính số 88/CHK ngày 13/8/2024 của Công ty cổ phần Đ và toàn bộ công trình, vật kiến trúc, cây trồng gắn liền trên đất (kèm theo Mảnh trích đo địa chính số 88/CHK ngày 13/8/2024 của Công ty cổ phần Đ).
[5] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn phải chịu với số tiền 10.900.000 đồng (mười triệu chín trăm nghìn đồng), (đã nộp xong). Trong đó: Nguyên đơn ông Phan Thời T nộp tạm ứng 8.900.000 đồng (tám triệu chín trăm nghìn đồng), ông T phải trả lại cho người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng cho bị đơn do ông Nguyễn Văn M là đại diện số tiền 2.000.000đồng (hai triệu đồng).
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: nguyên đơn ông Phan Thời T phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Nguyên đơn ông Phan Thời T được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004652 ngày 02/02/2023 (ông T đã nộp xong); ông Phan Thời T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007880 ngày 06/6/2024, nhận tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
[7] Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Phan Thị G gồm ông Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị Mộng T1, Nguyễn Văn H, Danh Thị Hồng N, Nguyễn Thị Mỹ T2 có người đại diện theo uỷ quyền ông Nguyễn Văn M được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007880 ngày 06/6/2024 nhận tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
[8] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[9] Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bị đơn nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Diệu |
Bản án số 75/2024/DS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 75/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu NĐ
